Thursday, April 30, 2015

Triệu Miếu

Du Lịch Huế - Triệu Tổ miếu là miếu thờ ông Nguyễn Kim, còn gọi là Cam (1468-1545), thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Nguyễn Kim là người đã phò Lê Trang Tông khởi đầu cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Năm 1545, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Sau này, triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế.



Triệu Tổ miếu là một công trình kiến trúc trong Hoàng thành Huế. Triệu Tổ miếu được xây dựng dưới thời vua thứ nhất của nhà Nguyễn, năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này nằm ở phía đông nam, bên trong Hoàng Thành, phía bắc của Thái Miếu. Về hình thức và qui mô kiến trúc, Triệu Miếu tương tự như Hưng Miếu, miếu gồm 1 tòa điện chính theo lối nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Hai bên điện chính có Thần Khố (phía đông) và Thần Trù (phía tây). Khuôn viên khu miếu hình chữ nhật, tường phía nam gắn liền với tường Thái Miếu. Bên trong điện chính đặt án thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế và Hoàng hậu. Mỗi năm tổ chức 5 lần tế tương tự ở Thái Miếu

Tuesday, April 28, 2015

Thác Bồ Gè, một vẻ đẹp hoang sơ

Du Lịch Huế - Giữa vách núi đá, chốn rừng hoang vắng thác Bồ Gè hiện ra hoang sơ, bình yên và thơ mộng đủ để làm cho con người ta quên đi mọi vất vả, lo toan giữa đời thường.

Từ thành phố Huế đi về trên tuyến QL 1A, đối diện với trụ sở UBND xã Lộc Tiến (Phú Lộc) rẽ vào chừng 3km sẽ bắt gặp thác Bồ Gè.

Con đường vào thác nhiều chỗ quanh co uốn lượn, bên trái là vách núi đá cao vút đan chẻ lởm chởm tạo nên một chút mạo hiểm khiến không gian trở nên hoang dã, heo hút. Cảm giác đang lẫn lộn thì thác Bồ Gè hiện ra trước mắt; một thác nước với vẻ đẹp hoang sơ dài tầm 500m, nằm giữa một thung lũng màu xanh của núi rừng bao phủ với từng tảng đá to nhỏ đang xen vào nhau hoà cùng làn nước trong xanh.





Thác Bồ Gè được thiên nhiên ưu đãi với làn nước xanh trong mát lạnh, đứng từ trên cao nhìn xuống ta sẽ dễ dàng nhìn thấy từng viên đá nhỏ bên dưới tạo nên sự lầm tưởng của nhiều người là thác cạn, nhưng thực tế điểm sâu nhất của thác cũng gần 4m, đủ cho những du khách thích cảm giác mạnh khi nhảy từ trên cao xuống. Thác là cả một dãy dài nhưng điểm nhấn tạo nên vẻ đẹp của thác chính là 2 hồ lớn giữa lòng thác, mỗi hồ rộng khoảng 400m2. Trải dọc thác là 7 quán ăn uống được lợp bằng lá cây rừng, móng nền bằng gỗ được thiết kế theo kiểu nhà sàn.



Các món ăn được phục vụ ở đây cũng đơn giản và gần gũi như cá trê, ếch, gà, kỳ nhông; một vài dịch vụ thiết yếu khác như cho thuê áo quần tắm, áo phao, phao bơi… Du khách khi đến đây có thể tắm ở các hồ bên dưới hoặc ngược lên đầu nguồn, thoả thích tìm hiểu thiên nhiên và tự do ngâm mình trong dòng nước mát để tận hưởng cảm giác thư thái, thoải mái, dễ chịu.

Thác Bồ Gè đón khách tấp nập vào những ngày hè, nhất là các gia đình. Chưa thu phí dịch vụ, chưa có sự can thiệp của con người nên hàng chục năm qua, thác Bồ Gè vẫn giữ được dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng của riêng mình.

Theo Tiến Vinh

Nét son bên dòng Ô Lâu

Du Lịch Huế - Suốt gần 150 năm qua, trên bầu trời danh nhân Thừa Thiên Huế, cái tên Nguyễn Tri Phương bật lên như một ngôi sao sáng lấp lánh mãi được người đời ngưỡng vọng.

Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đồng Xuyên. Ông tuổi Canh Thân (1800)[, quê ở xã Phong Chương, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Tuy xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc, nhà nghèo, song nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn. Bước vào quan trường từ thời Minh Mạng qua đời Thiệu Trị, ông được tin dùng và được thăng giữ nhiều chức vụ quan trọng; được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu Huế. Khi vua Thiệu Trị băng hà, theo di chiếu ông được đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần. Năm Mậu Thân (1848), ông được vua Tự Đức phong tước Tráng Liệt bá. Nguyễn Tri Phương là cái tên ông được vua Tự Đức ban tặng năm Canh Tuất (1850), lấy tứ từ câu “Dõng thả tri phương”, có nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước.

Đền thờ Nguyễn Tri Phương mới được tôn dựng và khánh thành năm 2010

Ông được biết đến như một dũng tướng mưu lược cuối thế kỷ 19, có công lớn trong việc khai hoang lập ấp ở Nam Bộ trong thời gian lĩnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ (1853). Năm 1858, ông thống lĩnh quân đội chặn được bước tiên của quân Pháp khi đánh vào Đà Nẵng, dù bị nhiều tổn thất do vũ khí tối tân vượt trội của giặc.


Trung Hiếu từ ngày trước vẫn được bảo tồn và tôn tạo

Đêm 19 rạng sáng 20 tháng 11 năm 1873, với trọng trách Tổng đốc Hà Nội, ông đã cùng quân binh anh dũng chống lại cuộc tấn công của quân Pháp với tàu đồng, đại bác tối tân. Thành vỡ, con trai ông là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Lính Pháp cứu chữa nhưng bị ông khảng khái từ chối và tuyệt thực cho đến chết. Ông mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Vua Tự Đức thân soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy (em ruột Nguyễn Tri Phương, hy sinh trong trận đại đồn Chí Hoà 1861), Nguyễn Lâm) và cho lập Trung hiếu từ để thờ tại quê nhà. Vua Tự Đức phê “Nguyên tam - Tuyên quân thứ Khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương tử tiết tại Hà Nội, em ruột là Tán lý Nguyễn Duy tử tiết tại Nam Kỳ, con là Phò mã Nguyễn Văn Lâm cũng tử tiết ở Hà Nội theo cha, người thì vì nước bỏ mình, kẻ thì vì cha tuẫn tiết, trung hiếu tiết nghĩa gồm ở một nhà, vậy Triều đình phải nên ưu đãi”.

Nội thất đền thờ

“Thương dân dân lập đền thờ”, ngoài đền thờ tại quê nhà, Nguyễn Tri Phương còn được nhân dân Biên Hòa lập đền thờ tại làng Mỹ Khánh, dinh Trấn Biên (nay là phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa). Ngôi đền đã được Bộ VH-TT công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1992.

Tại Phong Điền, Thừa Thiên Huế, mộ và đền thờ Nguyễn Tri Phương-Nguyễn Duy-Nguyễn Lâm cũng đã được Bộ VH-TT &DL công nhận là Di tích Lịch sử- Văn hoá cấp Quốc gia vào năm 1990.

Bên cạnh cho trùng tu Trung Hiếu từ, Nhà nước còn đầu tư xây dựng mới khu nhà thờ Nguyễn Tri Phương, sửa chữa tượng đài Tam công trung liệt… Công trình xây mới nhà thờ Nguyễn Tri Phương được thiết kế theo lối kiến trúc nhà rường truyền thống, do bàn tay thiện nghệ của những người thợ danh tiếng của làng mộc mỹ nghệ Mỹ Xuyên làm nên. Cụm công trình đã được khánh thành vào đầu năm 2010, tổng kinh phí đầu từ hơn 3,2 tỷ đồng. Đây thực sự là một nét son, một di tích lịch sử-văn hoá ý nghĩa đáng viếng thăm bên dòng Ô Lâu.

Theo Diên Thống

Trường Cao đẳng Y tế Huế

Du Lịch Huế - Trường Cao đẳng Y tế Huế ngày nay tiền thân là trường Y tá Quốc gia Huế, được thành lập theo các nghị định: Nghị số 2008 ngày 12/04/1948 của Khâm sứ Nam Kỳ, Nghị định số 1038 ngày 03/04/1950 của Thủ Hiến Bắc Việt, Nghị định số 64 ngày 29/12/1951 của Thủ Hiến Trung Việt.

Trường Cao đẳng Y tế Huế nguyên là Trung tâm Huấn luyện điều dưỡng chuyển tiếp từ trường Y tá quốc gia Huế, khai giảng khóa đầu tháng 3/1952, sau đó chuyển thành trường Cán sự Điều dưỡng Huế.

Tháng 6/1976 hợp nhất 3 trường Cán bộ Y tế ở Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị thành trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên.

Tháng 7/1989, trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên được đổi tên thành trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huế trực thuộc Sở Y tế Thừa Thiên Huế.

Ngày 09 tháng 11 năm 2005, trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huếđược nâng cấp thành trường Cao đẳng Y tế Huế theo Quyết định số 6284/QĐ-BGD&ĐT ngày 9 tháng 11 năm 2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trực thuộc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.



Trường bao gồm các khoa, phòng:

- Khoa y

- Khoa dược

- Khoa học cơ bản

- Phòng Đào tạo

- Phòng tổ chức hành chíng

- Phòng kế hoạch tài chính

- Phòng quản lý học sinh sinh viên

- Phòng quản trị đời sống

- Phòng NCKH và QHQT

Trường Cao đẳng Y tế Huế có sứ mạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng, và các trình độ thấp hơn trong lĩnh vực Y tế; nghiên cứu và phát triển khoa học nhằm phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

Trường Cao đẳng Y tế Huế

Địa chỉ: 01 Nguyễn Trường Tộ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế

Trang web: http://cdythue.edu.vn/

Điện thoại: (054) 3822414

Email: cdythue@cdythue.edu.vn

Monday, April 27, 2015

“Tây lĩnh thang hoằng” - Thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh

Du Lịch Huế - Sự xuất hiện của các tấm bia đã khẳng định vị trí thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh một thuở…

Từng được phát hiện vào năm 1837

Đây là khu vực suối nước nóng từng phát hiện vào thời Nguyễn. Năm 1837, Nguyễn Phúc Miên Nghi trong một lần đến săn bắn ở nguồn Tả Trạch đã phát hiện ra vũng nước nóng này và về báo với vua Minh Mạng. Nhà vua đã cử lang trung Bộ Công là Vũ Trọng Đại đi điều tra tình hình và vẽ bản đồ xác định vị trí. Sau đó vua Minh Mạng lại thân hành đến tận nơi xem xét và làm bài văn “Thang Hoằng Ký” rồi cho khắc vào bia đá, dựng tại nơi này. Trong chuyến đi này, hoàng trưởng tử Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông (sau này là vua Thiệu Trị) cũng đi cùng.

Tấm bia khắc tên địa danh “Lãnh Giản” (năm 1837)

Vào năm 1844, khi có dịp trở lại nơi này và viết bài thơ “Tây lĩnh thang hoằng” chính vua Thiệu Trị cũng nhấn mạnh sự kiện “ngày trước từng theo vua cha lên đây”:

Cố phục bồi du ức tích niên, / Thừa nhan bác lãm chí kim truyền. / Nhất hoằng ủng súc chưng dương hoả, / Vạn trượng phi xung thược thuỷ yên. / Bất hạ Phùng Di thường dũng phất, / Mạn giao Hồi Lộc dịu ngao tiên. / Kham dư chung dục thuỳ linh tích, / Dược thạch hư đàm khủng vị nhiên.

Dịch thơ:

Theo phụ hoàng xưa, tuổi tráng niên, / Mà nay cảnh cũ vẫn lưu truyền. / Một dòng suối nhỏ đà đun nóng, / Vạn trượng hơi mờ lại bốc lên. / Phùng Di khiến nước sôi muôn chốn, / Hồi Lộc mang hơi toả khắp miền. / Tạo hoá linh thiêng ban dấu tích, / Nước này kỳ diệu thuốc thiên nhiên.

Bài thơ “Tây lĩnh thang hoằng” cũng được khắc vào bia đá và dựng tại nơi này.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vũng nước nóng này nằm ở phía tây ấp Dương Hoà bên nguồn Tả Trạch, thuộc địa phận huyện Hương Trà (nay là thị xã Hương Thuỷ), cách ngã ba Bằng Lãng khoảng hơn 20 km. Vũng nước nóng này cách bờ Tả Trạch khoảng 65m, chu vi khoảng 4m, nước đen và trong, sâu chừng khoảng 30cm. Nguồn nước từ trong lòng đất phun ra, sôi sùng sục, khói trắng bốc lên, nóng đến mức không thể tới gần được. Cũng tại nơi này, năm Minh Mạng thứ 18, triều đình cũng cho dựng 2 tấm bia ghi tên suối.

Thắng cảnh thứ 20 của đất thần Kinh

Thời Thiệu Trị, nhà vua từng xếp hạng 20 thắng cảnh xứ Huế qua chùm thơ có tên gọi là Thần Kinh nhị thập cảnh. Chùm thơ gồm các bài thơ ca ngợi 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh (Huế) gồm 7 thắng cảnh tự nhiên và 13 thắng cảnh nhân tạo hoặc là sự kết hợp giữa nhân tạo với tự nhiên. Cảnh suối nước nóng “Tây lĩnh thang hoằng” chính là thắng cảnh thứ 20.

Tấm bia lớn được tìm thấy, chữ khắc trong lòng bia bị nước mưa và thời gian bào nhẵn

Trong 20 thắng cảnh Huế xưa do vua Thiệu Trị đề vịnh được bộ Công vẽ tranh minh hoạ, có 8 thắng cảnh trong cung và vườn ngự đều được khắc thơ lên bảng đồng; 12 thắng cảnh khác đều khắc thơ lên bia đá trong đó có “Tây lĩnh thang hoằng” và được dựng tại đây.

Hiện tại chỉ có 20 bức tranh của bộ Công (in trong sách Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập) là còn tương đối nguyên vẹn. Các bảng đồng đã hoàn toàn không tìm thấy, các bia đá thì tìm thấy 7/12 bia (là các bia Vân Sơn Thắng Tích, Bình Lãnh Đăng Cao, Hương Giang Hiểu Phiếm, Thiên Mụ Chung Thanh, Trạch Nguyên Tao Lộc, Huỳnh Tự Thư Thanh, Đông Lâm Dực Điểu). Và mới đây, việc tìm thấy 2 tấm bia đá ở Tả Trạch đã chỉ ra một “cơ hội” để có thể tìm thấy bia “Tây lĩnh thang hoằng”.

Bằng chứng qua 2 tấm bia

Ngày 09/11/2012, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đã tổ chức khảo sát tại suối nước nóng thuộc xã Dương Hoà, thị xã Hương Thuỷ để xác minh cụ thể về thông tin các tấm bia đá thời Nguyễn được Ban Quản lý rừng phòng hộ Hương Thuỷ phát hiện tại lòng hồ Tả Trạch.

Hiện nay, suối nước nóng đã “thay đổi hình dạng”, không có vẻ là một vũng với chu vi khoảng 4m (như mô tả của sách Đại Nam nhất thống chí) mà nó đã thực sự tạo thành một con suối quanh co, rộng không đều từ 2-4m, dài trên 200m. Nước trong vắt, nóng khoảng 80-100oC, lòng suối đen, khói trắng bốc nghi ngút kín cả mặt nước. Cạnh đó chừng 60m là nguồn Tả Trạch rầm rào thật sự đã tạo nên một bức tranh kỳ vĩ, thơ mộng của thiên nhiên.

Hiện nay, tại khu vực suối nước nóng (có tọa độ ở Kinh độ: 160 14” 452’” ; ở Vĩ độ: 1070 38” 782’”) cách trung tâm thị xã Hương Thủy chừng 15km theo đường chim bay, đã xuất lộ 2 tấm bia trên một triền đồi cao cách khu suối nước nóng khoảng 10m. Một tấm còn nguyên vẹn kiểu dáng, cao 1m60 (không kể phần bệ bia) rộng 86cm, dày 20cm; trán bia chạm hình lưỡng long triều nhật và thân bia chạm hoa lá cách điệu, bệ chạm hoa văn kỷ hà theo phong cách cung đình; bề mặt bia bị nước và thời gian bào mòn đến mức không còn thấy được dấu vết của chữ khắc. Một tấm khác bị gãy phần dưới thân, cao 67cm, rộng 43cm, dày 9cm mặt trước khắc 2 chữ Lãnh Giản mặt sau khắc Minh Mạng thập bát niên, tam nguyệt cát nhật (Ngày tốt, tháng ba, năm Minh Mạng thứ 18).

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết, vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), triều đình có cho khắc dựng 3 bia suối nước nóng tại đây, trong đó có 01 bia lớn khắc bài ký về suối nước nóng của vua Minh Mạng, 2 bia nhỏ khắc tên suối là Thanh Giản (nghĩa là Khe Trong) và Lãnh Giản (nghĩa là Khe Lạnh).

Do vậy, có khả năng tấm bia lớn bị bào mòn bề mặt được phát hiện tại khu vực này là tấm bia khắc bài Thang hoằng ký của vua Minh Mạng.

Đối chiếu này đã nói lên thực tế rằng, hiện vẫn còn 2 tấm bia thời Nguyễn chưa được tìm thấy ở khu vực này. Đó là tấm bia thơ Tây Lĩnh Thang hoằng thời Thiệu Trị và tấm bia địa danh Thanh Giản thời Minh Mạng.

Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đang khẩn trương lập phương án để di chuyển 2 tấm bia trên về bảo quản tại bảo tàng, đồng thời xác định sẽ nỗ lực tìm kiếm và di chuyển 2 tấm bia còn lại, bởi lẽ trong tháng 11 này, khi hoạt động trữ nước tại hồ Tả Trạch triển khai thì vị trí các tấm bia sẽ ngập trong độ sâu từ 50 đến 60m.

*
Sự xuất hiện của các tấm bia đã khẳng định khu vực suối nước nóng này đúng là thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh một thuở. Và cũng thật là đáng tiếc, hậu thế khi phát hiện được địa điểm chính xác của thắng cảnh thứ 20 của Huế xưa cũng chính là lúc mà thắng cảnh này sẽ trở thành ký ức khi hồ Tả Trạch tích nước.

Theo Hải Trung

Vườn chùa Huyền Không Sơn thượng

Du Lịch Huế - Từ cầu Trường Tiền đi lên phía chùa Thiên Mụ, băng ngang qua khỏi Văn Miếu Huế theo con đường nhỏ ngược lên mãi dọc theo triền núi sẽ đến vùng núi Chằm, nơi có ngôi chùa Thiền Huyền không Sơn Thượng nằm ở lưng chừng núi với vẻ đẹp kỳ lạ, huyền ảo.


Nếu như Thiền viện Trúc Lâm Bạch mã ẩn hiện giữa lòng hồ Truồi rộng mênh mang thì Chùa Thiền Huyền Không Sơn Thượng lại thu gọn mình trong một thung lũng, giữa những triền đồi, những dãy núi cao và một rừng thông bạt ngàn hàng vạn cây được gọi là Vạn tùng sơn trên độ cao hơn 300m so với mực nước biển. Đây là một ngôi chùa thuộc hệ phái Nam tông (*) được Thượng tọa Giới Đức khai sơn năm 1989.


Trung tâm thung lũng mở ra tả Thanh Long là một triền đồi thoai thoải, hữu Bạch Hổ là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối um tùm. Hướng tây nam có một mỏm núi với cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá gọi là Độc Thụ sơn. Dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá mang dáng vẻ ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn. Những am cốc ẩn cư nằm rải rác sâu trong rừng thông hay quanh quẩn bên sườn núi tạo ra một quần thể kiến trúc tuyệt đẹp.
Độc thụ sơn
Hình chèn bên cạnh là Tượng đá mang dáng vẻ thiền sư dưới gốc cây cổ thu do cố Họa sĩ nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đã tạc gửi tặng chùa.

Những thảo am nhỏ nằm trên lưng chừng núi

Hơn chục năm về trước con đường lên Huyền Không Sơn Thượng mới chỉ là con đường dất nhỏ bé, chạy ngoằn nghèo giữa những khu rừng thông với đá núi gập ghềnh. Lúc đó khi đến đây, tôi đã rất thán phục công sức của các nhà sư chỉ bằng những chiếc xe kéo nhỏ đã đưa được vật liệu lên đây để xây dựng nên ngôi chùa. Bây giờ thì con đường nhỏ ngày xưa đã trở thành một con đường bê –tông khá lớn, ô tô có thể vào được, trong chùa còn có cả nơi để xe ô tô và xe máy dành cho khách tham quan đến thăm chùa.

Cổng vào chùa Huyền Không sơn thượng

Từ cổng chùa bạn đã thấy sự khác biệt của Huyền Không Sơn thượng so với các ngôi chùa khác. Ở đây không có cổng Tam quan to lớn, cổng chùa chỉ như cổng của một ngôi nhà theo kiểu kiến trúc sân vườn Huế. Bước vào phía trong là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện.

Cây cầu dẫn vào Phong Trúc Am

Khác hẳn với chính điện của những ngôi chùa khác, chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ nhưng thoáng đãng, giản dị mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Chính giữa thờ duy nhất Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni như bất cứ ngôi chùa nào khác thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông.

Của vào Phong Trúc Am
"Cửa không mây níu áo hiền nhân
Ngõ trúc sương len hồn trí giả"

Chính điện

Tượng thờ trong chính điện

Bên phải Phật điện là Phong Trúc Am, được dùng làm nơi đón khách. Đó đây, dưới bóng những cây tre ngà lao xao hay trong khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế giả gỗ để khách ngồi nghỉ, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật. Nếu muốn bạn cũng có thể xốc ba lô lên vai, men theo những con đường mòn nhỏ leo lên những sườn núi xung quanh để từ đó thỏa thích ngắm nhìn toàn bộ thung lũng dưới tầm mắt của mình.


Phong Trúc Am


Trước sân chính điện

Nếu biết rằng vị sư trụ trì chùa, Thượng tọa Giới Đức - Minh Đức Triều Tâm Ảnh cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp tài hoa thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi nhìn thấy thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng …Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng.




Nội quy cũng là một bài thơ



Nhà thủy tạ cũng là nơi trưng bày thư pháp



Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên, để một phút sống thật với chính mình… là những cảm xúc không dễ gì bạn bắt gặp nơi ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành…



Thay cho lời tạm biệt
(Photo : Anh Phương)-------------------------

(*) Phật giáo Nam tông hay tiểu thừa, còn gọi là Phật giáo nguyên thủy là hệ phái Phật giáo được truyền theo con đường phía nam từ SriLanka vào Việt Nam ( khác với Phật giáo Bắc tông được truyền từ Trung Quốc đời Bắc Tống sang Việt Nam). Phật giáo Nam tông tu theo lối tu ẩn cư trong những am cốc nhỏ để đạt được đến độ giác ngộ cho bản thân mình. Cũng chính vì vậy những ngôi chùa thuộc hệ phái Nam tông thường ở nơi núi non hoang sơ, có phong cảnh đẹp, xa nơi thị thành.

Nguyễn Văn Liêm

Tranh làng Sình - nét độc đáo của văn hóa Huế

Du Lịch Huế - Tranh dân gian làng Sình có thể sánh ngang với tranh Đông Hồ.

Cùng với hoa giấy Thanh Tiên, từ bao đời nay vào mỗi dịp Tết đến xuân về tranh làng Sình đã góp phần lớn vào việc giữ gìn nét văn hóa tâm linh của người dân xứ Huế.

Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề làm tranh trong làng xuất hiện cách đây khoảng 400 năm về trước và nổi tiếng xứ Huế và các vùng lân cận. Xét về phương diện dòng tranh dân gian thì tranh làng Sình có thể sánh ngang với tranh Đông Hồ.Tuy nhiên điểm khác biệt và độc đáo là tranh làng Sình được làm ra với mục đích là thờ cúng và được đốt đi sau khi cúng.

Và những ngày cuối năm này, người dân làng Sình cũng đang hối hả trong việc làm nên những bức tranh sinh động để kịp phục vụ cho tết cổ truyền của dân tộc. Hiện nay ở làng Sình có khoảng hơn 30 hộ dân còn gắn bó với nghề truyền thống này. Người lớn thì làm tranh cả ngày, còn trẻ em tranh thủ những lúc rãnh rỗi hay được nghĩ học phụ giúp gia đình làm tranh.



Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước, người gắn bó với nghề làm tranh ở làng Sình đã hơn 50 năm cho biết, mỗi độ tết đến thì nhu cầu dùng tranh để thờ cúng của người dân khá nhiều. Theo quan niệm của người dân thì dùng tranh để thờ cúng thì sẽ gặp rất nhiều may mắn trong cuộc sống.Vì thế mà tranh làng Sình không chỉ cung cấp cho thị trường ở Huế mà có những người từ Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Nam...cũng tới đặt hàng mua tranh về để sử dụng trong dịp tết...



Về cách làm tranh, nghệ nhân Phước cho hay, một bức tranh được làm ra thì đòi hỏi nhiều kỹ thuật công phu. Tranh được in trên bản mộc gỗ được khắc rất tinh xảo. Giấy dùng để in tranh phải là loại giấy dó hoặc giấy mộc quét điệp. Còn màu sắc được tạo nên từ nhiều chất liệu như sò điệp, các loại lá cây. Quy trình để làm nên bức tranh phải trải qua rất nhiều công đoạn như : cào điệp, giã điệp, hồ điệp, pha giấy, phơi giấy, tạo màu, khắc ván, in tranh, tô màu...Và giai đoạn tô màu cho tranh đòi hỏi công phu và sự nhanh nhạy của người làm tranh làng Sình.



Về thăm làng Sình và ngôi nhà của Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước một sáng cuối năm, những bức tranh cuối cùng được hoàn thành và đưa ra chợ quê. Nét văn hóa và 1 làng nghề cần được bảo tồn và phát triển.

CTV Lê Huy Hoàng Hải