Tuesday, June 9, 2015

Về Cồn Tè ăn cá thuốc bắc

Sau khi cây cầu Tam Giang (thường gọi là cầu Ca Cút) nối hai bờ phá Tam Giang (xã Hương Phong và Hải Dương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) được đưa vào sử dụng vào cuối năm 2010, đã đánh thức tiềm năng du lịch của khu vực đầm phá Tam Giang.

Từ trung tâm TP Huế đi theo quốc lộ 49 về hướng Thuận An, đến cầu Diên Trường (xã Phú Tân, huyện Phú Vang) rẽ trái, đi thêm chừng 5 km nữa là đến Cồn Tè. Cồn Tè nằm cuối xã Hương Phong, nhìn ra cửa Thuận An. Tại đây, vào mùa hè, ngồi trên những căn nhà chồ bốn bề lộng gió, thưởng thức các món cá tươi rói mới bắt lên từ phá Tam Giang, mọi cảm giác mệt mỏi chừng như tan biến.

Theo các ngư dân có kinh nghiệm, sở dĩ hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có nhiều cá ngon là do nguồn nước luôn được luân lưu, môi sinh trong sạch. Mặt khác, đây cũng là vùng duy nhất trong phá Tam Giang còn lại loài rong hẹ (còn gọi rong cỏ kiệu) là thức ăn số một và cũng là nơi sinh cư lý tưởng của các loài cá con như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá kình và cá nâu. Báo cáo khoa học về đa dạng sinh học các loài cỏ biển thuộc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai của Viện Hải dương học Hải Phòng đã được Hội đồng khoa học Sở Khoa học - Công nghệ Thừa Thiên - Huế nghiệm thu năm 2005, cho biết: “Cây rong hẹ còn có tên là rong cỏ kiệu, một loài cỏ biển quý trong thảm thực vật hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Loài rong này khi sinh trưởng sẽ tạo nên một thảm thực vật hệ đáy của vùng đầm phá và trở thành nơi sinh cư lý tưởng cho các loài cá con, trong đó có các loài cá mú, cá hồng, cá nâu...”.

Các loài cá nâu, cá kình, cá dìa... ở phá Tam Giang rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Huế thường gọi chúng là những “con cá thuốc bắc”, bởi thịt cá có chức năng như một liều thuốc an thần nhẹ, chống mất ngủ và giảm tress rất hiệu quả. Đặc biệt, các món cá kình, cá nâu, cá dìa hấp mồng tơi ở đây vẫn được lưu truyền là loại thuốc trị chứng mất ngủ hiệu quả.

Các loại cá trên cũng đặc biệt ngon, bổ khi được nấu cháo. Khi những hạt gạo đã bắt đầu nở búp trong nồi, nước cháo sôi sùng sục, những chú cá ong, cá dìa, cá nâu tươi nguyên còn giãy đành đạch, được tẩm qua gia vị thả ào vào soong. Hương thơm bốc lên ngào ngạt. Húp bát cháo cá tươi quyện trong vị cay nồng của hành hương, mồ hôi trong người toát ra, mọi độc tố tồn đọng trong cơ thể dường như được tống khứ. Toàn thân nhẹ hẫng một cảm giác sảng khoái lâng lâng...

Friday, May 8, 2015

Nghênh Lương Đình

Nghênh Lương Đình hay Nghênh Lương Tạ là một công trình nằm trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu được xây dựng dưới thời Nguyễn dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát. Đây là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế.

Nghênh Lương Tạ được xây dựng dưới triều vua Tự Đức thứ 5 (1852), năm Thành Thái thứ 15 (1903) được trùng tu cẩn thận và đến năm Khải Định thứ 3 (1918) lại được tôn tạo thêm một lần nữa để phục vụ vua thường xuyên đến nghỉ mát, từ thời Khải Định về sau gọi là Nghênh Lương Đình - chữ Nghênh Lương Tạ có nghĩa là nhà Thủy Tạ để hóng mát. Trước đây, triều đình cho ngăn con đường đi từ cửa Thể Nhơn (tức Cửa Ngăn) ra Nghênh Lương Đình, không cho ai qua lại hoặc thấy mặt vua.

Nghênh Lương Tạ có kết cấu kiến trúc kiểu phương đình 1 gian 4 chái, phía trước và phía sau đều có nhà vỏ cua nối dài ra. Bộ khung gỗ ở phần trên, nhất là các vì vỏ cua cùng hệ thống liên ba được chạm trổ công phu. Mái nhà chính lợp ngói ống lưu ly vàng, hai nhà vỏ cua lợp ngói liệt menvàng. Nền Nghênh Lương Tạ cao 90cm, bó vỉa bằng gạch vồ và đá thanh, phía bờ sông có 13 bậc cấp dẫn xuống một hành lang xây sát mặt nước sông Hương. Cảnh quan xung quanh nhà tạ thoáng đãng và rất trữ tình.



Xét về cấu trúc không gian ở trục trước mặt Kinh thành, Nghênh Lương Tạ là điểm nối kết giữa Kỳ Đài - Phu Văn Lâu - Hương Giang - Ngự Bình. Và đây cũng là vị trí đẹp để ngắm nhìn, cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn của sông Hương vào lúc bình minh, khi hoàng hôn hay trong đêm trăng sáng.

Nguyên xưa Nghênh Lương Tạ là một phần của hành cung Hương Giang dựng từ năm Tự Đức thứ 5 ở bờ bắc sông Hương, trước mặt toà Phu Văn Lâu. Ngoài hành cung này, tại khu vực Huế, các vua Nguyễn còn có nhiều hành cung khác như hành cung Thần Phù, hành cung Thuận Trực, hành cung Thuận An, hành cung Thúy Vân...Tất cả các hành cung này đều có dựng nhà tạ để phục vụ nhà vua, tuy nhiên, đến nay duy chỉ có Nghênh Lương Tạ của hành cung Hương Giang là còn tồn tại.

Hình ảnh Nghênh Lương Đình được in trên tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng.

Wednesday, May 6, 2015

Hành hương Bạch Mã Sơn, Thừa Thiên Huế

Bạch Mã Huế - Những ngọn núi linh thiêng trên mảnh đất di sản miền Trung thường gắn liền với những huyền thoại đẹp, mang âm hưởng tiêu dao. Tạm xa cuộc sống ồn ào nơi phố thị, bạn hãy thực hiện chuyến du hành tâm linh khám phá một trong số những ngọn núi linh thiêng, đó là Bạch Mã Sơn.

Nằm ở vị trí giáp ranh giữa tỉnh Thừa Thiên – Huế và thành phố Đà Nẵng, núiBạch Mã mang trong mình biết bao điều kỳ thú.

Cao gần 1.500m, đỉnh Bạch Mã từng được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ví như “ngọn núi ảo ảnh” – một ngọn núi như ảo ảnh sa mạc, thấy và gặp rồi, vậy mà định chạm vào thì nó bỗng chốc tan biến. Ðể lên được tới đỉnh, phải leo qua nhiều quãng dốc. Từ trên đỉnh núi, bạn như vượt lên trên mây bởi mây chỉ bay lưng chừng núi. Từ đây, bạn có thể thu vào tầm mắt cả không gian rộng lớn toàn cảnh đèo Hải Vân, núi Túy Vân, đầm Cầu Hai và cả ánh sáng huyền ảo của Cố đô Huế, thành phố Đà Nẵng lúc đêm về. Ngay trong các căn biệt thự cổ trên đỉnh Bạch Mã, bạn cũng có thể nhìn ra một vùng rừng núi chập chùng và lãng đãng mây, bầu trời lồng lộng và biển mênh mông. Được thiên nhiên ưu đãi,Bạch Mã quanh năm khí hậu mát mẻ, ôn hòa tương tự như Sapa hay Đà Lạt.

Hành trình đến Bạch Mã mang lại nhiều cảm xúc khó tả khi bạn phiêu lưu khám phá những bí ẩn nằm sâu trong lòng núi. Trên núi có con suối trong vắt, nhiều ngọn thác ngoạn mục, Ngũ Hồ tuyệt đẹp – nơi có năm hồ nước nối tiếp nhau được hình thành từ một con suối lớn với hình dáng uốn lượn, mỗi hồ một vẻ, trông vô cùng đẹp mắt. Hay thác đỗ quyên cao 400m quanh năm tung nước trắng xóa xuống các khe suối đỏ rực màu hoa đỗ quyên hòa cùng thác Bạc giống như một dải lụa trắng lấp lánh giữa núi rừng xanh bạt ngàn.

Từ thời Pháp thuộc, người ta đã biết đến Bạch Mã như một khu nghỉ mát, an dưỡng tuyệt vời của miền Trung với một hệ thống gồm 139 biệt thự, khách sạn, bể bơi, đường giao thông... được xây dựng nhằm phục vụ việc tham quan, nghỉ dưỡng của giới quan chức người Pháp và nhà giàu thời bấy giờ. Ngày nay, tại Bạch Mã, những biệt thự cổ kiểu Pháp chỉ còn lại dấu tích đổ nát do chiến tranh và thời gian tàn phá. Tận dụng những biệt thự ít bị hư hỏng, người ta trùng tu, tôn tạo thành khu nghỉ ngơi dành cho du khách. Biệt thự thường chỉ cao hai tầng với cầu thang vòng và hành lang khá rộng mát, cửa sổ lớn quay ra phía đỉnh núi, sàn gỗ mát mẻ, thoáng đãng.

Bạch Mã nay trở thành điểm hành hương mới tại miền Trung kể từ khi xuất hiện Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, công trình xây dựng năm 2006, tiếp nối dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử có từ đời Trần. Quả đồi nơi Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tọa lạc hiện lên giữa lòng hồ Truồi như một đóa hoa, gối đầu vào núi rừng Bạch Mã trải dài đến hút mắt, có long chầu hổ cứ, có thủy bảo sơn bao.

Trước khi đặt chân lên 172 bậc tam cấp dẫn lên tam quan chùa, bạn phải lên phà qua hồ Truồi rộng lớn. Chuyến phà làm khách hành hương có cảm giác như mình đang rũ sạch bụi trần để chuẩn bị bước vào cõi Phật. Bên kia bờ nước, dưới chân ngọn linh sơn, những tổ đường, chính điện, tăng đường, trai đường, phương trượng, lầu chuông, tháp xá lợi… quần tụ trên khu đồi nguyên sinh, dưới chân đỉnh núi Bạch Mã quanh năm chìm trong mây trắng.

Bước chân vào chùa, khách hành hương sẽ cảm nhận được vẻ hùng vĩ và trang nghiêm của chánh điện, tổ đường, trai tăng, những mái chùa cong vút in hình trên nền trời xanh hay những ngọn núi mây trắng vờn quanh. Tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành một bức tranh thiên nhiên hoàn hảo.

Tuesday, May 5, 2015

Huyền bí chùa Huyền Không Sơn Thượng

Du Lịch Huế - Phong cảnh chùa giàu chất thiên nhiên, nhiều vẻ đẹp hoang dã được chọn lọc nhờ bàn tay khéo léo con người. Thơ mộng và tịch liêu rất thích hợp với mẫu người của Thượng tọa Giới Ðức. Tại đây Thượng tọa đã cho ra đời rất nhiều bài thơ hay và những cuốn sách có giá trị về Phật học, văn chương, nghệ thuật.

Phải chăng nhờ cảnh núi rừng hùng vĩ, môi trường thiên nhiên trong lành và mát mẻ đã góp phần hun đúc nên các tác phẩm bất hủ ấy?

Ðến viếng chùa du khách phải vượt qua nhiều quãng đường lên đồi xuống dốc mà hai bên là cảnh núi rừng thiên nhiên, tiếng suối chảy rì rào, sim, mua, tràm, chổi,… ẩn hiện theo mùa, qua rừng tùng ngút ngàn, những cụm cổ thạch rêu phong, những bài thơ trên đá v.v…và Ở đây Thượng tọa đã kiến tạo được một chánh điện giản dị bằng gỗ, mái tranh trông rất hiền hoà và thanh thoát.

Ngay cả nội quy nhắc nhở khách đến vãn cảnh chùa cũng được sáng tác thành một bài thơ. Ảnh: Thoại Hà.

Bên phải chánh điện với mấy cụm tre vàng thơ mộng là “Am mây tía” (tiền thân là Phong Trúc Am, được xây dựng từ năm 1992). Bên trái chánh điện là “Quá Thiện Ðường ” (nhà ăn), “Chúng Hoà Ðường ” (nhà sinh hoạt). Phía trước chánh điện khoảng hơn 100m, bên phải có hai dãy Tăng xá và nhà học là (Tuệ Học Ðường). Ở đây có một vườn ươm cây kiểng đủ loại kích cỡ 40m x 50m. Phía đối diện là vườn ươm lan rộng 20m x 30m, có khoảng trên dưới 1000 giò. Hướng Tây Nam có một mõm núi, có cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá, tên là “Ðộc Thụ Sơn”.Mấy dãy núi đối diện Thượng tọa trồng 5 – 6 vạn cây thông và đặt tên là “Vạn Tùng Sơn”. Huyền Không Sơn Thượng toạ lạc trên một vùng rừng 56 ha do Nhà Nước giao đất, giao rừng từ năm 1989. Hiện tại ở đây có khoảng trên 20 vị sư và điều là Tăng sinh Phật học viện Huyền Không.

Đây là một vùng rừng gần 56ha do Nhà nước giao cho nhà chùa từ năm 1989. Trung tâm sơn lũng mở ra tả Thanh Long là một triền đồi thoai thoải, hữu Bạch Hổ là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối um tùm. Hướng tây nam có một mỏm núi với cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá gọi là Độc Thụ sơn.

Khách tới lần đầu thường sửng sốt, bởi hiện ra trước mắt một quần thể kiến trúc rõ ràng là nơi tu hành song được kiến tạo theo phong cách trang nhã với những hình khối nhỏ xinh bằng tranh tre, gợi lên thi hứng hơn là cảm giác u mặc; còn những bức thư họa trang trí trong nội thất lại khiến ta liên tưởng rõ rệt tới một không gian văn hóa cổ điển hơn là sự nghiêm cẩn chùa chiền. Bản thân ngôi chính điện cũng không dựng theo lối thông thường với tường, vách, cột, bệ thờ… như các chùa ta vẫn gặp.

Chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ nhưng thoáng đãng, giản dị mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Tượng Phật đặt chính giữa gian mà có cảm giác lộ thiên, như hòa thân bất hoại vào vũ trụ, tỏa tinh thần hỷ xả tới mọi tâm linh, để ngay sau khi dâng hương làm lễ, ta đã có cảm giác thân thuộc với từng góc nhà, từng gốc trúc trong sân chùa.

Nhưng có lẽ, điều hấp dẫn du khách nhất vẫn là cảnh quan nơi đây. Từ cổng chùa bạn đã bị thu hút bởi một tảng đá lớn, trên đó khắc những dòng thư pháp bay bổng. Bước vào khuôn viên, du khách có cảm giác như lạc vào chốn bồng lai. Không gian thiên nhiên được bàn tay con người chăm chút, tạo dáng nên ẩn trong sự hoang dã là nét tinh tế của kiến trúc sân vườn Huế. Nhiều loài hoa và thảo mộc quí được đưa về trồng tỏa hương thơm phảng phất xa gần. Những giò phong lan treo lủng lẳng, những cội mai già, những gốc tùng, bách bên thảm cỏ rêu phong khoe vẻ đẹp tao nhã hoang sơ. Dường như ở đây có sự hiện hữu của muôn loài, để đến với Huyền Không Sơn Thượng là đến với cái vĩnh hằng của sự sống và tìm thấy sự bằng an thanh tịnh của lòng mình.

Dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá nổi tiếng do cố điêu khắc gia Điềm Phùng Thị tạc, gửi tặng chùa một dáng ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn. Những am cốc ẩn cư nằm rải rác sâu trong rừng. Am Mây Tía là một trong những nơi như vậy, nơi những người yêu thích văn chương thi phú tìm đến để đàm đạo, bình thơ, ngắm gió trăng, mây núi và uống trà.

Khung cảnh trong khuôn viên chùa Huyền không sơn thượng, một ngôi chùa còn đậm nét hoang sơ mà thanh tao, thi vị. Ảnh: Thoại Hà.

Những người yêu thích thư pháp ở Huế cũng như khách phương xa vào dịp lễ Phật Đản và trong thời gian diễn ra lễ hội Festival tụ hội về chùa Huyền Không Sơn Thượng để gặp gỡ đàm đạo và cùng nhau thưởng thức các nét bút tài hoa. Đặc biệt là nét bút của nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh – nhà sư đã sống ở đây mười mấy năm từ những ngày đầu nhà chùa nhận đất trồng rừng, rồi dựng chùa và tôn tạo nơi đây để dành tặng cho nhân gian, nhẫn nại theo đuổi con đường hướng lòng người đến với thiên nhiên, với cái đẹp. Chữ dưới bàn tay mà thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ, có ẩn chứa ý tứ: trông chữ thấy hình, trông hình thấy chữ.


Buổi chiều, các nhà sư trong chùa Huyền Không Sơn Thượng đang chuẩn bị làm đẹp những tiểu cảnh trong chùa để đón khách thập phương.

Và cửa thiền Huyền Không ngoài tôn giáo, ngoài chốn thảo am vãn cảnh, còn là một góc nhân văn của xứ Huế mộng mơ. Ai lên chùa là gặp ngay ở triền núi dọc con đường vào những tấm đá khắc thư pháp đã phôi pha màu thời gian, cho ta nhiều suy ngẫm mà thấy đạo thấy đời.


(Am mây tía ở Huyền Không Sơn Thượng)

Bạn hãy xốc balô du lịch một lần đến với Huyền Không Sơn Thượng, để thả bước trên thảm lá mục theo thời gian, lắng nghe trong không gian hương thơm trinh bạch của đóa sen, tiếng gió vi vu qua rừng thông như tiếng đàn tranh vọng lại từ xa xưa. Ở đây, giữa đất trời bao la, con người như được trải lòng mình với thiên nhiên phiêu bồng và sống thật với mình nhất. Vâng! Thân thuộc như chính những ngôi nhà tranh của vùng quê xưa, gần gũi như những không gian sinh hoạt cộng đồng làng xã, Huyền Không Sơn Thượng tỏa ra tinh thần Phật giáo nhập thế, tu hành biệt lập mà không xa cách.


Sunday, May 3, 2015

Chùa Quy Thiện

Du Lịch Huế - Chùa Quy Thiện toạ lạc tại thôn Tứ Tây, xã Thuỷ An, TP. Huế. Chùa được xây dựng vào năm Quý Hợi (1923) dưới thời vua Khải Định (1917-1925) do Đông Các Đại học sĩ, Nam tước, Thượng thư Thái Văn Toản, pháp danh Như Cơ, hiệu Thiện Khê, cùng phu nhân là bà Công Tôn Nữ Lương Cầm, pháp danh Thanh Thiện tạo lập.

Cụ Thái Văn Toản là người theo Nho học, nhưng lại rất chánh tín Tam bảo. Sống trong phú quý công danh, nhưng ông bà Thượng thư vẫn không quên làm việc phước, tạo lập chùa chiền để phụng thờ Phật thánh, làm chổ tu tập cho Tăng chúng và chổ nương về của hàng thiện tín thập phương.

Khi hoàn thành năm Ất Sửu (1925) chùa được vua Khải Định ban biển hiệu “Sắc Tứ Quy Thiện tự”.


Năm Đinh Sửu (1937), cụ Thượng Thư Thái Văn Toản cung thỉnh Hoà thượng Chơn Đạo - Chánh Thống về làm toạ chủ và sung chức Tăng cang. Hoà thượng Chơn Đạo Chánh Thống là một bậc cao tăng lổi lạc, đóng góp một phần rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ. Ngoài ra Hoà thượng còn tham gia giảng dạy Phật học ở một số trường Phật học lớn trong nước và trước tác nhiều tác phẩm thơ ca bằng chữ Hán và chữ Quốc Ngữ, trong đó đáng chú ý hơn hết là bộ “Thuỷ Nguyệt Tùng Sao” là một tác phẩm lớn trong nền văn học thơ ca Phật giáo Việt Nam.

Năm Mậu Thân (1968) Hoà Thượng viên tịch, Đệ tử của Ngài là Hoà Thượng Không Tâm Trí Quảng kế vị Trú trì sau đó Tăng môn cữ Thượng toạ Quán Không làm Giám tự, đến năm Bính Tý (1996) thì thượng toạ viên tịch.

Năm Nhâm Thân (1992) Hoà thượng Không Tâm-Trí Quảng viên tịch, đệ tử của Ngài là Hoà thượng Thích Quán Chơn kế thế làm Trú trì.

Trong những năm chiến tranh chùa đã xuống cấp trầm trộng, toàn bộ cột, vĩ kèo, đòn tay...bị mối mọt ăn đứt rệu rã, Tăng chúng trong bổn tự đã nhiều lần gia cố, nhưng cứ mỗi lần mưa tó gió lớn rất nguy hiểm làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tu hành tụng kinh niệm Phật của Tăng chúng và thiện tín thập phương.

Nên vào dịp đầu năm Bính Tuất (2006) Hoà thượng Thích Quán Chơn đã quyết định cho vận động đại trùng tu. Lễ đặt đá được tiến hành vào 25 tháng Giêng năm Bính Tuất (22/02/2006) và hoàn thiện vào ngày 12 tháng 11 năm Bính Tuất (31/ 12/ 200. vào dịp giổ Hoà thượng Chơn Đạo Chánh Thống ngày 21 tháng 12 năm Bính Tuất (8/2/2007) tăng môn tổ chức lễ lạc thành an vị Phật.

Chùa Quy Thiện ngày nay đã được xây dựng mới hoàn toàn từ chánh điện đến nhà trù bằng chất liệu chính là bê-tông cốt thép rất kiên cố.

Trong chùa thờ tự trang nghiêm, chánh điện thờ Tam thế Phật, phía trước tôn trí pho tượng Quán Thế Âm bằng đồng có nét mặt rất đẹp, thuần chất Á Đông, tả hữu thờ Bồ tát Quán Thế Âm và Địa Tạng, hai bên thờ Thập điện Minh vương.

Ngoài ra nhà chùa còn có nhiều pháp bảo khác như chiếc mỏ lớn, có các pho tượng cổ rất đẹp, trong khuôn viên chùa còn có điện thờ Mẫu, đây là một nét đặc biệt khác với hệ thống kiến trúc chùa Huế truyền thống.

Ngày nay, chùa Quy Thiện là nơi thường xuyên có nhiều Phật tử đến chiêm bái, lễ lạy, cảnh chùa ngày càng hưng thịnh cây cối trong vườn tốt tươi hơn khách đến chùa lòng cũng thấy thanh thản nhẹ nhàng hơn

Hiền hòa những ngôi chùa làng - Huế

Du Lịch Huế - Chùa Huế - Ở vùng đất Huế, khi Chúa Nguyễn Hoàng vào xứ Thuận Hóa đã mang theo tinh thần của Phật giáo, đi đến đâu cũng đều lập chùa.

Thuở ban đầu, chùa làng chỉ là một ngôi nhà nhỏ, dựng bằng tranh tre nứa lá, mãi đến sau này, những ngôi chùa làng mới được xây dựng kiên cố với những trang trí rồng, đắp nổi sành sứ. Mỗi ngôi chùa làng đều được xây dựng ở những nơi có thế đất tốt, ở vị trí đầu làng hay ở giữa làng. Thời nhà Nguyễn còn có chỉ dẫn cụ thể về việc xây dựng chùa.

Theo đó, “việc xây dựng chùa phải chọn đất tốt, ngày, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông- ao hồ ôm bọc. Trước mặt chùa có minh đường hay không có minh đường cũng được nhưng phía sau không nên có núi áp kề, ấy là thế đất tốt”. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đại Vinh cho rằng “Chùa làng là loại chùa công có mặt sớm nhất ở Huế, đã trước bạ với tên xứ đất này. Thời Mạc, tại Huế đã có hai ngôi chùa nổi tiếng được sử sách ghi nhận: đó là chùa Sùng Hóa và chùa Thiên Mụ. Tuy nhiên, giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo, văn hóa xã hội của làng quê xứ Huế nói riêng, hay cả miền Trung nói chung, phải là ngôi chùa làng, ngôi chùa của một cộng đồng cư dân đã cùng chung khai phá một vùng đất, cố kết nhau trong một sinh hoạt tâm linh bền chặt, trải qua thử thách trên dưới năm, sáu trăm năm qua”.

Chùa làng là nơi sinh hoạt bình đẳng, là nơi tụ họp cả làng, ai cũng có thể đến chùa cầu nguyện. Nếu ngày xưa, đình chỉ là nơi dành cho nam giới đến hội họp, thì chùa là nơi luôn mở rộng cửa đón nhận tất cả mọi người. Hình ảnh ngôi chùa làng đã in dấu trong tâm trí của bao thế hệ với hình ảnh thầy trụ trì hiền hậu, với tiếng chuông chùa mỗi sớm, mỗi chiều vang lên trong không gian quê yên bình, như nhắc nhở mọi người hãy sống thuận hòa, chăm lo cày cấy để có cuộc sống no ấm.
Về mặt kiến trúc, những ngôi chùa làng thường được xây theo kiểu kiến trúc chữ Đinh, chữ Công, hay chữ Tam tùy theo công đức đóng góp. Chùa làng thường không có cửa hoặc có cửa nhưng không bao giờ đóng, cũng có khi nhà chùa chỉ xây dựng hai trụ biểu tượng trưng cho chiếc cổng. Vào các ngày lễ lớn như rằm tháng Tư, rằm tháng Tám, lễ, Tết, nam nữ trong làng và những người lớn tuổi thường đến chùa lễ Phật và sau đó xin một lời Phật dạy được các thầy chùa trích ra từ những bài kinh thành những câu răn dạy lối sống ở đời như hai câu đối ở cổng chùa Giác Lương (Làng Hiền Lương-xã Phong Hiền-huyện Phong Điền)
“ Vô diệt vô sanh tuy vạn kiếp nhất bất cổ.
Nhược hiển nhược ẩn thông bách phước tứ vu kim”
Tuy là chùa làng nhưng nhiều ngôi chùa có kiến trúc qui mô. Nổi bật như chiếc cổng tam quan của chùa Giác Lương. Cổng được xây theo lối kiến trúc vọng lâu, trên là lầu, dưới là cổng. Mỗi chi tiết kiến trúc và trang trí trên chiếc cổng này đều cho người xem một cảm xúc hoài cổ. Thời gian để lại dấu rêu phong trên bề mặt nhưng vẫn không làm mờ nét tài hoa mà người thợ xưa đã để lại trong từng chi tiết nhỏ. Mặt hổ phù và hoa sen được khảm sành sứ thật sống động gợi nhớ về nét tinh hoa của làng nghề khảm sành sứ ở Huế. Trong không gian này, cảnh chùa xưa đem lại sự bình an trong lòng người viếng cảnh.



Chùa Giác Lương. Ảnh: Diên Thống

Chùa làng ngoài thờ Phật, Thánh, các vị thủy tổ các họ còn là nơi lưu giữ nhiều hiện vật cổ, quý mà phổ biến nhất là chuông. Trên chiếc Đại hồng chung đúc năm 1819 của chùa Giác Lương, thân chuông còn khắc tên một số nghệ nhân nổi tiếng về nghề rèn và cơ khí của làng như ông Hoàng Văn Lịch, Trần Văn Đắc, Dương Phước Thiệu, Trương Quang Sừng... Xưa nhất là chuông chùa làng La Chữ (xã Hương Chữ- thị xã Hương Trà), được đúc dưới thời Tây Sơn duy nhất còn lại cho đến nay. Quả chuông được đúc vào năm Quang Trung thứ 4 (1791), do vợ chồng võ tướng triều Tây Sơn là Điện tiền Thái bảo Ngự giá Quận công Võ Văn Dũng - vợ là Lê Thị Vi, cùng với bố vợ là ông Lê Công Học - người làng La Chữ - đứng ra làm hội chủ cúng dường. Đây là quả chuông chùa độc đáo và kỳ lạ nhất ở Huế vì các hoa văn trên chuông không hề mang nặng dấu ấn của văn hóa Phật giáo mà được trang trí bằng bộ “Tứ thời”: Xuân - Hạ - Thu - Đông. Đặc biệt, trên thân chuông còn khắc hình chiếc gương và chiếc lược sưa, lược dày- những vật dụng của nữ giới. Dưới các ô có hình 8 vị võ tướng tay cầm khí giới trong hình dáng các thế võ, tương truyền là các thế võ của Tây Sơn.... Đặc biệt, trong ngôi chùa làng La Chữ này, có một gian nhà dành thờ bài vị của những võ tướng thời Tây Sơn như Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng và vợ là Lê Thị Vi, nữ tướng Bùi Thị Xuân, bà Lê Công Thị Nhơn - người đã nhường đất Hạ Lang để Bùi Thị Xuân luyện voi chiến.

Trong đời sống cộng đồng của người dân Việt, ngôi chùa làng trở thành tâm điểm của cả làng. Hàng năm vào các dịp lễ, Tết người dân trong làng đến thắp hương cầu nguyện. Những người dân quê hiền lành cùng với những lời cầu nguyện mùa màng tươi tốt, gia đạo bình yên, cuộc sống ấm no hạnh phúc, đó cũng chính là lời cầu nguyện mẹ cha sức khỏe, gia đình yên vui trong các ngày lễ lớn như Vu Lan. Ngôi chùa làng đã trở thành một mái ấm tinh thần của cư dân cả làng. Ai cũng đều có thể đến đây thỉnh một tiếng chuông, thắp hương lễ Phật, tìm thấy nơi đây sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Cũng từ những dịp gặp gỡ tại chùa mà tình bà con, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn. Nề nếp của làng, của gia đình được giữ gìn bởi những vị tuổi cao đức trọng, những vị tộc trưởng.
Chùa làng cũng là nơi xuất phát nhiều danh sư. Chẳng hạn như từ ngôi chùa làng An Khánh (thuộc làng Dã Lê Chánh – xã Thuỷ Vân - thị xã Hương Thuỷ) nhiều danh sư đã từng tu tập tại đây như nhà sư Nguyễn Văn Quý- trụ trì chùa Pháp Vân – nơi tổ chức cuộc biến động (nhà Nguyễn gọi là Giặc chày vôi) chống vua Tự Đức năm 1866, Hoà thượng Thanh Thái Huệ Minh (vị tổ thứ 4 chùa Từ Hiếu), Hoà thượng Giác Nhiên (Chùa Thuyền Tôn), Sư bà Diệu Hương (khai sơn ni viện Diệu Đức), Hoà thượng Thích Mật Hiển (chùa Trúc Lâm).
Chùa làng còn là nơi gắn liền với nhiều danh nhân. Thuộc về địa phận xã Hương Xuân – Hương Trà, Thanh Lương là một trong những làng cổ của Huế, là nơi có nhiều người đỗ đạt cao, làm quan to. Chùa làng Thanh Lương được xây theo kiểu chùa cổ của Huế. Từ xa, dân trong làng dễ dàng nhìn thấy chiếc cổng chùa xây theo lối cổ lâu (hai tầng).
Đặc biệt, trong chùa làng Thanh Lương có thờ một danh nhân, đó là ông Đặng Văn Hoà. Ông là người làm quan nhưng thấm nhuần đạo Phật, ông đã cúng dường nhiều chuông, tượng Phật cho các chùa ở vùng đất Hương Trà như chùa Bác Vọng Đông, Bác Vọng Tây, Hoà Viện, Thanh Lương, Hiền Sĩ.
Tại chùa làng Thanh Lương, ông Đặng Văn Hoà còn tiến cúng một tấm bia đá, trên tấm bia này khắc ghi lịch sử của làng, các vị khai canh, khai khẩn và tên tuổi những người có công. Tất cả đều còn nguyện vẹn cho đến ngày hôm nay.
Ngôi chùa như là nơi che chở, chia sẻ, an ủi con người trong những lúc vui buồn và cả chuyện buồn sinh tử. Mỗi lúc như thế, thầy trụ trì chùa làng là người đứng ra lo liệu về mặt tâm linh, cầu kinh cho người quá cố theo phong tục của những người theo đạo Phật, tình cảm của dân làng và ngôi chùa làng cứ thế dày thêm theo năm tháng.
Ngày nay, những ngôi chùa làng ở các miền quê không còn cảnh “tranh tre nứa lá” mà đã được xây dựng kiên cố, thờ phụng trang nghiêm- đó là một kiến trúc không thể thiếu ở các làng quê Việt, là nơi mà mỗi sớm mai hay khi hoàng hôn, những tiếng chuông chùa ngân nga lưu giữ tình quê, để cho ai dù ở bốn phương trời, khi nhớ về quê cũ vẫn mong được nghe một tiếng chuông chùa, được ngắm nhìn làng quê trong buổi hoàng hôn với những cánh cò vội vã bay về tổ ấm.

Saturday, May 2, 2015

Khám phá cuộc sống Vương triều Nguyễn qua bảo tàng cổ vật Cung đình Huế

Du Lịch Huế - Du khách đến Huế, dường như ai cũng muốn tham quan những cung điện vàng son một thuở bên trong những vòng tường thành rêu phong cổ kính, hay viếng thăm những lăng tẩm uy nghi của các vị vua triều Nguyễn đang giấu mình dưới bóng cổ tùng nơi vùng đồi núi chập chùng ở phía tây Kinh Thành Huế…

Đến với Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hàng trăm hiện vật qúy hiếm, ghi dấu về cuộc sống của Vương triều Nguyễn xưa kia.

Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế là bảo tàng được thành lập sớm nhất ở Huế với danh xưng đầu tiên là Musée Khải Định (Bảo tàng Khải Định), tọa lạc tại số 03, đường Lê Trực, Thành phố Huế và đã sáu lần được thay đổi tên:

- Tàng Cổ Viện Huế (từ năm 1947, dưới thời hội đồng chấp chính Trung Kỳ).

- Viện bảo tàng Huế (dưới thời Ngô Đình Diệm).

- Nhà trưng bày cổ vật (từ năm 1979).

- Bảo tàng cổ vật Huế (từ năm 1992).

- Bảo tàng mỹ thuật cung đình Huế (từ năm 1995).

- Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (từ năm 2007).

Đã có một thời, nhất là trước năm 1945, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế là một trong những bảo tàng sáng giá nhất Đông Dương và được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhiều học hội trên thế giới biết đến, nó là một tổ hợp động sản và bất động sản gắn liền với triều đại nhà Nguyễn (1802-1945).

Khuôn viên bảo tàng rộng đến gần 6.500 m2, trong đó có tòa nhà chính ở giữa với diện tích mặt bằng 1.185m2 và một số nhà phụ dùng làm kho tàng trữ cổ vật, sân vườn... Tòa nhà chính vốn là ngôi điện Long An nằm trong cung Bảo Định được xây dựng năm 1845 ở bờ Bắc Ngự Hà. Đó là một biệt cung để vua Thiệu Trị (1841-1847) thỉnh thoảng đến tiêu khiển và làm chỗ nghỉ chân hàng năm khi ra cày ruộng Tịch điền ở gần đó. Vào năm 1909, thời vua Duy Tân, triều đình cho dời điện Long An đến vị trí hiện nay để làm thư viện của trường Quốc Tử Giám kề ngay đó. Đến năm 1923, do đề nghị của hội Đô Thành Hiếu Cổ, vua Khải Định cho di chuyển toàn bộ tài liệu sách vở trong thư viện này qua một dãy nhà nằm bên trái Di Luân Đường trong khuôn viên trường Quốc Tử Giám, rồi đặt cho nó cái tên mới là Bảo Đại thư viện, còn tòa điện Long An cũ thì dùng làm Bảo tàng Khải Định. Bảo tàng “có nhiệm vụ sưu tập và bảo tồn những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu phản ánh đầy đủ đời sống chính trị, xã hội, nghệ thuật và nghi lễ của nước Đại Nam”.

Người xưa đã rất có lý khi dùng điện Long An làm bảo tàng. Ngôi điện đã tồn tại hơn 1,5 thế kỷ và cũng là một cổ vật tuyệt tác, được đánh giá là cung điện đẹp nhất của Kinh thành Huế xưa. Điện Long An có sự kết hợp hài hòa giữa kết cấu kiến trúc và nghệ thuật trang trí. Tám bộ vì kèo tiền điện chạm lộng đề tài lưỡng long tranh châu và hệ thống con xơn giả thủ được chạm trổ cực kỳ tinh xảo khiến khi nhìn vào người ta cảm nhận đó là các tác phẩm nghệ thuật hơn là những kết cấu chịu lực. Nội thất ngôi điện hội tụ nhiều đồ án trang trí với các kỹ thuật và chất liệu như chạm nổi, khảm trai, khảm xương ngà, xà cừ được bài trí rất tinh tế, hài hòa. Điều này thể hiện trên các ô, hộc theo lối nhất thi nhất họa tại các liên ba, đố bản.

Kể từ lúc khai sinh, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế là sự tiếp nối, kế thừa từ Bảo tàng Khải Định, là nơi trưng bày và tàng trữ hơn 8.000 cổ vật quý giá. Phần lớn những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật, các đồ dùng cho nhu cầu sinh hoạt, lễ nghi, tín ngưỡng và quốc phòng của vua, hoàng gia và triều đình nhà Nguyễn; các hiện vật Chămpa và những tặng phẩm, thương phẩm từ quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Việt Nam và các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan, Anh, Thái Lan... bao gồm đồ sứ, đồ đồng, kim loại quý, vải, gỗ, đá, pha lê, ngà, mây tre...

Trải qua sự hủy hoại của thời gian và sự thất thoát do lòng tham của con người, số cổ vật ở đó không còn nguyên vẹn như xưa. Nhưng, ngày nay khi đến đây, du khách vẫn còn chiêm ngưỡng được hàng trăm hiện vật qúy hiếm với đầy đủ chất liệu, chủng loại đã làm nên các bộ sưu tập hiện vật: Sưu tập đồ sứ kiểu thời Nguyễn; Sưu tập đồ sứ Trung Hoa thời Minh - Thanh; Sưu tập đồ sứ Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX; Sưu tập gốm men Việt Nam thế kỷ XIV - thế kỷ XIX; Sưu tập đồ pháp lam Việt Nam thời Nguyễn và pháp lam Trung Hoa; Sưu tập trang phục cung đình thời Nguyễn; Sưu tập hiện vật bằng kim khí thời Nguyễn; Sưu tập ấn triện thời Nguyễn; Sưu tập đồ gỗ sơn son thếp vàng và khảm cẩn thời Nguyễn; Sưu tập đồ uống Việt Nam thời Nguyễn và đồ uống của Pháp; Sưu tập nhạc khí dùng trong các cuộc tế lễ; Sưu tập trấn phong thời Nguyễn; Sưu tập tranh gương; Sưu tập chuông, vạc, đỉnh và nồi đồng kích thước lớn; Sưu tập súng thần công; Sưu tập bia và tượng đá thời Lê và thời Nguyễn; Sưu tập hiện vật Champa.

Tất cả sẽ mang đến cho du khách những khám phá mới về lịch sử với một sức hấp dẫn đặc biệt khi đến viếng cố đô.

Sau một thời gian đóng cửa để trùng tu (tháng 4/2008), đến đầu năm 2012, Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế đã mở cửa trở lại phục vụ khách du lịch. Nó vẫn là nơi chốn mà mỗi lần đến Huế, du khách nên tự mình tìm đến, bước qua bậc tam quan có cánh cửa gỗ đang rộng mở, để khám phá những gì ẩn giấu bên trong.

Trấn Hải Thành

Du Lịch Huế - Trấn Hải thành là một thành lũy được xây dựng ở cửa biển Thuận An, dùng để bảo vệ cho cửa ngỏ phía đông của Kinh đô triều Nguyễn. Nó nằm cách Kinh thành Huế khoảng 10km đường sông và hơn 13km đường bộ.

Từ thời xa xưa cho đến đầu thế kỷ XIX, của biển này đã được gọi là cửa Eo (các sử sách ghi là Yêu Hải môn). Mặc dù cửa biển này đã được di chuyển đến vị trí khác cách đó hơn 4km về phía tây bắc vào đầu thế kỷ XX, tòa thành lũy vẫn còn nằm yên tại chỗ và còn tương đối nguyên vẹn.

Cửa Eo, nơi sông Hương đổ nước ra biển, đã từng được xem là một vị trí chiến lược xung yếu của vùng Huế ngay từ thời nhà Hồ (1400-1407), qua thời Hậu Lê (1428-1789), đến thời Tây Sơn (1788-1801). Sau khi thống nhất đất nước vào đầu nước vào thế kỷ XIX và chọn Huế để xây dựng Kinh đô, vua Gia Long thấy vị thế cửa Eo càng trở nên xung yếu hơn. Bởi vậy, vào năm 1813, nhà vua đã cho xây dựng ở bờ bắc của cửa biển này một tòa thành lũy gọi là Trấn Hải đài và cho đổi tên cửa Eo thành cửa biển Thuận An với hàm ý cầu mong trời yên biển lặng. Đến năm 1834, vua Minh Mạng cho đổi tên Trấn Hải đài ra Trấn Hải thành. Dù là “đài” hay là “thành”, công trình kiến trúc này cũng có hai nhiệm vụ chính, là phòng thủ về mặt biển để bảo vệ Kinh đô, và kiểm soát, điều khiển mọi loại tàu thuyền trong nước và nước ngoài ra vào cửa biển.

Tòa thành lũy này cũng được xây dựng theo kiểu Vauban. Vì Trấn Hải thành nằm sát bên bờ biển, cho nên, mặt bằng của nó đã được thiết kế theo dạng hình tròn. Nếu có hải triều dâng lên và sóng lớn đánh vào thành thì thành khó bị sạt lở và sụp đổ. Thành đươc xây bằng gạch vồ và trát vữa vôi rất chắc chắn. Vòng thành có chu vi 302,04m, đường kính khoảng 100m, cao 4,40m, dày 12,60m. Thành có hai cửa: cửa chính ở mặt trước và cửa phụ ở mặt sau. Nhìn về hướng nam, cửa chính cao 2,60m, rộng 2,16m. Quanh trên thành có bố trí 99 ụ súng. Dọc theo ngoài chân thành là hệ thống hào rộng 9,04m và sâu 2,40m.

Đại thần Nguyễn Đức Xuyên được giao nhiệm vụ đứng ra điều khiển công tác xây dựng tòa thành lũy này. Việc thi công kéo dài khoảng một năm thì hoàn tất. Nhung, khi vừa xây xong thì đoạn bờ biển ở gần đó bị sóng lớn đánh vào làm cho nó bị xói lở đến tận chân thành, cho nên triều đình Gia Long quyết định đóng cọc gỗ và xây kè đá ở bờ biển để chống sự xâm thực và trồng 4.000 cây dừa ở quanh ngoài thành để ngăn không cho sóng to gió lớn xói mòn đất cát.

Qua thời Minh Mạng, vào những năm 1820,1826,1830 và 1831, thành này được gia cố bằng cách cắm thêm nhiều cọc gỗ xuống bờ biển và đổ thêm đá xuống đó để ngăn sóng. Năm 1834, triều đình cho xây thêm trong thành một tòa nhà cao, gọi tên là lầu Quan Hải, để nhìn ra biển cho rõ hơn, và cấp ống thiên lý (ống nhòm) để theo dõi tàu bè qua lại ngoài biển khơi; còn chung quanh thành thì trồng thêm 9.000 cây dừa để chống xâm thực.

Nhưng, sau đó 5 năm, bờ đá kè gần chân thành bị sóng lớn đánh mạnh làm cho nó bị sụt lở trầm trọng. Đứng trước tình trạng nguy hiểm ấy, quan quân đồn trú tại đây đề nghị triều đình nên dời thành vào xây ở một vị trí khác nằm sâu hơn trong vùng đất Thuận An. Nghe thế, vua Minh Mạng nói rằng: ”Tránh nước cũng như tránh giặc, nếu ta lui một bước thì giặc sẽ tới một bước, không phải là việc hay”. Nhà vua liền ra lệnh gia cố lại bằng cọc gỗ lim và kè thêm đá.

Vua Minh Mạng nhận thấy cửa Thuận An và thành Trấn Hải có giá trị về nhiều phương diện, cho nên, khi đúc Cửu đỉnh vào năm 1836, nhà vua đã cho thể hiện hình ảnh “Thuận An hải khẩu”, trong đó có thành Trấn Hải, ở Nghị đỉnh.

Năm 1840, triều đình cho treo trên lầu Quan Hải một cái đèn lồng đường kính khoảng 3m, xem như là ngọn hải đăng, thắp sáng hàng đêm để ghe thuyền ngoài biển nhận biết cửa khẩu mà vào.

Năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) cho 300 biền binh về đó để gia cố những chỗ kè đá bị sóng đánh sạt lở. Nhà vua cho rằng thành Trấn Hải nói riêng, phong cảnh cửa biển ở đó nói chung, trông vừa hùng tráng, vừa thơ mộng, cho nên đã “xếp hạng” kiến trúc và thiên nhiên ở đây là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần kinh (Thần kinh nhị thập cảnh) và đã làm nhiều bài thơ để ca ngợi.

Năm 1847, sau khi xảy ra một trận hải chiến giữa Pháp và quân ta tại Đà Nẵng, vua Thiệu Trị “thấy cần phải cảnh giác thận trọng, cho nên xây thêm một cái thành ở đồi cát Hòa Duân nằm đối diện bên kia bờ cửa biển [Thuận An] để hai bên yểm trợ cho nhau...”.
Đến năm 1858, dưới thời Tự Đức (1848-1883), Pháp lại tấn công Đà Nẵng. Triều đình cho củng cố lại các đồn lũy ở Thuận An cũng như ở làng Hòa Duân, và xây dựng thêm một loạt đồn bót ở những địa điểm lân cận, như Cồn Sơn, Hạp Châu, Lộ Châu (Tân Mỹ), Qui Lai, Thuận Hòa, v.v.. Rồi triều đình giao cho hai đại thần Trần Tiễn Thành và Nguyễn Như Thăng đứng ra điều khiển việc đem xích sắt và dây sắt ra chắn ngang cửa biển Thuận An để đề phòng tàu Pháp đột nhập vào phá Tam Giang và sông Hương. Sau đó, vua Tự Đức còn tăng cường cho thành Trấn Hải và các đồn bót lân cận thêm nhiều binh sĩ và vũ khí đạn dược, trong đó có rất nhiều khẩu súng thần công cỡ lớn.

Dưới thời Gia Long, chỉ có khoảng 150 binh sĩ đồn trú tại thành Trấn Hải. Nhưng đến thời Tự Đức thì “số binh lính hùng mạnh đồn trú ở đó lên đến hơn mấy nghìn người”. Có lẽ con số nhà cửa và trại quân ở bên trong và bên ngoài thành Trấn Hải phải lên đến hàng chục tòa khác nhau.

Sau khi thành Trấn Hải được xây dựng, các vua đầu nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức hầu như năm nào cũng về đây để kiểm soát lại sự bố phòng và duyệt khán thủy quân của triều đình tập trận hải chiến. Có một lần đứng trên thành Trấn Hải vào năm 1830, vua Minh Mạng sau khi quan sát một lượt chung quanh, đã nói rằng: “Mấy năm nay cửa biển này mỗi ngày một sâu, 2 bờ cát bồi lên ôm lấy bên tả bên hữu, lại có pháo đài phòng giữ, thời phía ngoài dù có tàu thuyền hàng nghìn cũng không làm gì được, thật là thành bằng đồng và hào chứa nước sôi cho Kinh sư vậy”.

Nhưng, như lịch sử đã cho thấy, nhận định của vua Minh Mạng cho rằng đây là “kim thành thang trì” là một nhận định chủ quan. Đến thời Tự Đức, mặc dù các đồn bót ở vùng Thuận An đã được bố trí dày đặc, có hệ thống và tăng cường quân số lên rất nhiều, nhưng toàn bộ cụm tiền đồn này của Kinh đô Huế, kể cả thành Trấn Hải, vẫn còn trong trình độ bố phòng và tác chiến bằng gươm giáo thô sơ và súng đạn lạc hậu của một nước Á Đông chậm tiến. Cho nên, một khi nó đụng phải sức mạng quân sự tinh xảo của Tây phương thì sẽ không thể đương đầu nổi. Cụ thể là vụ Pháp đánh chiếm cửa biển Thuận An vào năm 1883 đã làm cho thành Trấn Hải và các đồn bót lân cận bị thất thủ một cách dễ dàng, mặc dù tinh thần kháng cự của các tướng sĩ ta bấy giờ rất cao, khiến cho địch cũng phải thán phục.

Thật vậy, từ ngày 18 đến 20-8-1883, dưới thời vua Hiệp Hòa, lực lượng thực dân Pháp với 7 tàu chiến và 1.050 quân đã tấn công vào thành Trấn Hải và các đồn bót chung quanh để uy hiếp triều đình Huế. Hàng ngàn quân sĩ của ta đồn trú tại đó đã kiên cường chiến đấu suốt 3 ngày đêm, nhưng vì trình độ vũ khí và chiến thuật giữa đôi bên quá chênh lệch, cho nên, cuối cùng, thành mất. Các tướng Lê Sĩ, Lê Chuẩn, Lâm Hoằng, Nguyễn Trung và đại thần Trần Thúc Nhẫn cùng hàng ngàn quân dân ở vùng Thuận An đã phải hy sinh đền nợ nước.

Cuộc kháng cự một mất một còn này đã được tái hiện khá rõ trong các tư liệu lịch sử và trong bài vè “Thất thủ Thuận An” dài 522 câu. Chính viên chỉ huy trưởng của một trong 7 tàu chiến Pháp lâm trận là Picard Destelan cũng đã ca ngợi tinh thần quyết tử bất khuất của quân ta: “Các pháo thủ đã chết trên các khẩu pháo của họ, họ là những người dũng cảm... Họ nằm xuống và cát vùi họ vào lòng đất ở sau những khầu đại bác làm cho họ trở nên tuyệt vời...”.

Cuộc đề kháng bi hùng ấy của quân ta tuy chẳng thành công, nhưng vẫn từng gây xúc động cho biết bao tâm hồn hậu thế.
Khoảng 60 năm sau thời điểm xảy ra sự kiện đau thương ấy, Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1947) trong một dịp về Thuận An để nhìn lại bãi chiến trường xưa, đã bày tỏ sự ngậm ngùi qua bài thơ “Thuận An hoài cổ”, trong đó có những câu:

“Khẩu súng Hải đài rêu bít miệng,
Hồn oan chiến sĩ sóng nhoi đầu.
Ngự đề tám cảnh còn đâu đó,
Một cảnh nhìn ra một cảnh đau”.

Trong một lần “dạo chơi miền cửa Thuận”, một thi nhân nổi tiếng của xứ Huế là Ưng Bình Thúc Dạ Thị (1877-1961) cũng đã có cùng tâm trạng và đã để lại những câu thơ đầy cảm khái:

“Trước dinh quan Tướng không quân sĩ,
Trong điện bà Giàng có lửa hương.
Gượng gạo bước lên đài Trấn Hải,
Bâng khuân ngó lại bãi sa trường”.

Mặc dù đã trải qua những biến động lịch sử và địa lý rất dữ dội trong gần 2 thế kỷ, Trấn Hải thành vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Nó đang mang trên mình những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc. Cho nên, Trấn Hải thành đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1998, và ngay từ năm 1993, đã trở thành một bộ phận trong Quần thể Di tích Huế, Di sản Thế giới.
Cho hay, dù thành cao hào sâu và được phòng vệ với thiên binh vạn mã, nhưng nếu các chủ nhân của nó không bắt kịp sự tiến bộ về vũ khí và chiến lượt trên thế giới, thì chẳng những thành bị hạ, nhân mạng bị tổn thất, mà chủ quyền của dân tộc cũng không còn. Âu đó cũng là một bài học lịch sử.

Thursday, April 30, 2015

Triệu Miếu

Du Lịch Huế - Triệu Tổ miếu là miếu thờ ông Nguyễn Kim, còn gọi là Cam (1468-1545), thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Nguyễn Kim là người đã phò Lê Trang Tông khởi đầu cho sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Năm 1545, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Sau này, triều Nguyễn truy tôn miếu hiệu cho ông là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế.



Triệu Tổ miếu là một công trình kiến trúc trong Hoàng thành Huế. Triệu Tổ miếu được xây dựng dưới thời vua thứ nhất của nhà Nguyễn, năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này nằm ở phía đông nam, bên trong Hoàng Thành, phía bắc của Thái Miếu. Về hình thức và qui mô kiến trúc, Triệu Miếu tương tự như Hưng Miếu, miếu gồm 1 tòa điện chính theo lối nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Hai bên điện chính có Thần Khố (phía đông) và Thần Trù (phía tây). Khuôn viên khu miếu hình chữ nhật, tường phía nam gắn liền với tường Thái Miếu. Bên trong điện chính đặt án thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế và Hoàng hậu. Mỗi năm tổ chức 5 lần tế tương tự ở Thái Miếu

Tuesday, April 28, 2015

Thác Bồ Gè, một vẻ đẹp hoang sơ

Du Lịch Huế - Giữa vách núi đá, chốn rừng hoang vắng thác Bồ Gè hiện ra hoang sơ, bình yên và thơ mộng đủ để làm cho con người ta quên đi mọi vất vả, lo toan giữa đời thường.

Từ thành phố Huế đi về trên tuyến QL 1A, đối diện với trụ sở UBND xã Lộc Tiến (Phú Lộc) rẽ vào chừng 3km sẽ bắt gặp thác Bồ Gè.

Con đường vào thác nhiều chỗ quanh co uốn lượn, bên trái là vách núi đá cao vút đan chẻ lởm chởm tạo nên một chút mạo hiểm khiến không gian trở nên hoang dã, heo hút. Cảm giác đang lẫn lộn thì thác Bồ Gè hiện ra trước mắt; một thác nước với vẻ đẹp hoang sơ dài tầm 500m, nằm giữa một thung lũng màu xanh của núi rừng bao phủ với từng tảng đá to nhỏ đang xen vào nhau hoà cùng làn nước trong xanh.





Thác Bồ Gè được thiên nhiên ưu đãi với làn nước xanh trong mát lạnh, đứng từ trên cao nhìn xuống ta sẽ dễ dàng nhìn thấy từng viên đá nhỏ bên dưới tạo nên sự lầm tưởng của nhiều người là thác cạn, nhưng thực tế điểm sâu nhất của thác cũng gần 4m, đủ cho những du khách thích cảm giác mạnh khi nhảy từ trên cao xuống. Thác là cả một dãy dài nhưng điểm nhấn tạo nên vẻ đẹp của thác chính là 2 hồ lớn giữa lòng thác, mỗi hồ rộng khoảng 400m2. Trải dọc thác là 7 quán ăn uống được lợp bằng lá cây rừng, móng nền bằng gỗ được thiết kế theo kiểu nhà sàn.



Các món ăn được phục vụ ở đây cũng đơn giản và gần gũi như cá trê, ếch, gà, kỳ nhông; một vài dịch vụ thiết yếu khác như cho thuê áo quần tắm, áo phao, phao bơi… Du khách khi đến đây có thể tắm ở các hồ bên dưới hoặc ngược lên đầu nguồn, thoả thích tìm hiểu thiên nhiên và tự do ngâm mình trong dòng nước mát để tận hưởng cảm giác thư thái, thoải mái, dễ chịu.

Thác Bồ Gè đón khách tấp nập vào những ngày hè, nhất là các gia đình. Chưa thu phí dịch vụ, chưa có sự can thiệp của con người nên hàng chục năm qua, thác Bồ Gè vẫn giữ được dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng của riêng mình.

Theo Tiến Vinh

Nét son bên dòng Ô Lâu

Du Lịch Huế - Suốt gần 150 năm qua, trên bầu trời danh nhân Thừa Thiên Huế, cái tên Nguyễn Tri Phương bật lên như một ngôi sao sáng lấp lánh mãi được người đời ngưỡng vọng.

Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đồng Xuyên. Ông tuổi Canh Thân (1800)[, quê ở xã Phong Chương, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Tuy xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc, nhà nghèo, song nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn. Bước vào quan trường từ thời Minh Mạng qua đời Thiệu Trị, ông được tin dùng và được thăng giữ nhiều chức vụ quan trọng; được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu Huế. Khi vua Thiệu Trị băng hà, theo di chiếu ông được đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần. Năm Mậu Thân (1848), ông được vua Tự Đức phong tước Tráng Liệt bá. Nguyễn Tri Phương là cái tên ông được vua Tự Đức ban tặng năm Canh Tuất (1850), lấy tứ từ câu “Dõng thả tri phương”, có nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước.

Đền thờ Nguyễn Tri Phương mới được tôn dựng và khánh thành năm 2010

Ông được biết đến như một dũng tướng mưu lược cuối thế kỷ 19, có công lớn trong việc khai hoang lập ấp ở Nam Bộ trong thời gian lĩnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ (1853). Năm 1858, ông thống lĩnh quân đội chặn được bước tiên của quân Pháp khi đánh vào Đà Nẵng, dù bị nhiều tổn thất do vũ khí tối tân vượt trội của giặc.


Trung Hiếu từ ngày trước vẫn được bảo tồn và tôn tạo

Đêm 19 rạng sáng 20 tháng 11 năm 1873, với trọng trách Tổng đốc Hà Nội, ông đã cùng quân binh anh dũng chống lại cuộc tấn công của quân Pháp với tàu đồng, đại bác tối tân. Thành vỡ, con trai ông là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Lính Pháp cứu chữa nhưng bị ông khảng khái từ chối và tuyệt thực cho đến chết. Ông mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Vua Tự Đức thân soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy (em ruột Nguyễn Tri Phương, hy sinh trong trận đại đồn Chí Hoà 1861), Nguyễn Lâm) và cho lập Trung hiếu từ để thờ tại quê nhà. Vua Tự Đức phê “Nguyên tam - Tuyên quân thứ Khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương tử tiết tại Hà Nội, em ruột là Tán lý Nguyễn Duy tử tiết tại Nam Kỳ, con là Phò mã Nguyễn Văn Lâm cũng tử tiết ở Hà Nội theo cha, người thì vì nước bỏ mình, kẻ thì vì cha tuẫn tiết, trung hiếu tiết nghĩa gồm ở một nhà, vậy Triều đình phải nên ưu đãi”.

Nội thất đền thờ

“Thương dân dân lập đền thờ”, ngoài đền thờ tại quê nhà, Nguyễn Tri Phương còn được nhân dân Biên Hòa lập đền thờ tại làng Mỹ Khánh, dinh Trấn Biên (nay là phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa). Ngôi đền đã được Bộ VH-TT công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1992.

Tại Phong Điền, Thừa Thiên Huế, mộ và đền thờ Nguyễn Tri Phương-Nguyễn Duy-Nguyễn Lâm cũng đã được Bộ VH-TT &DL công nhận là Di tích Lịch sử- Văn hoá cấp Quốc gia vào năm 1990.

Bên cạnh cho trùng tu Trung Hiếu từ, Nhà nước còn đầu tư xây dựng mới khu nhà thờ Nguyễn Tri Phương, sửa chữa tượng đài Tam công trung liệt… Công trình xây mới nhà thờ Nguyễn Tri Phương được thiết kế theo lối kiến trúc nhà rường truyền thống, do bàn tay thiện nghệ của những người thợ danh tiếng của làng mộc mỹ nghệ Mỹ Xuyên làm nên. Cụm công trình đã được khánh thành vào đầu năm 2010, tổng kinh phí đầu từ hơn 3,2 tỷ đồng. Đây thực sự là một nét son, một di tích lịch sử-văn hoá ý nghĩa đáng viếng thăm bên dòng Ô Lâu.

Theo Diên Thống

Trường Cao đẳng Y tế Huế

Du Lịch Huế - Trường Cao đẳng Y tế Huế ngày nay tiền thân là trường Y tá Quốc gia Huế, được thành lập theo các nghị định: Nghị số 2008 ngày 12/04/1948 của Khâm sứ Nam Kỳ, Nghị định số 1038 ngày 03/04/1950 của Thủ Hiến Bắc Việt, Nghị định số 64 ngày 29/12/1951 của Thủ Hiến Trung Việt.

Trường Cao đẳng Y tế Huế nguyên là Trung tâm Huấn luyện điều dưỡng chuyển tiếp từ trường Y tá quốc gia Huế, khai giảng khóa đầu tháng 3/1952, sau đó chuyển thành trường Cán sự Điều dưỡng Huế.

Tháng 6/1976 hợp nhất 3 trường Cán bộ Y tế ở Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị thành trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên.

Tháng 7/1989, trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên được đổi tên thành trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huế trực thuộc Sở Y tế Thừa Thiên Huế.

Ngày 09 tháng 11 năm 2005, trường Trung học Y tế Thừa Thiên Huếđược nâng cấp thành trường Cao đẳng Y tế Huế theo Quyết định số 6284/QĐ-BGD&ĐT ngày 9 tháng 11 năm 2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trực thuộc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.



Trường bao gồm các khoa, phòng:

- Khoa y

- Khoa dược

- Khoa học cơ bản

- Phòng Đào tạo

- Phòng tổ chức hành chíng

- Phòng kế hoạch tài chính

- Phòng quản lý học sinh sinh viên

- Phòng quản trị đời sống

- Phòng NCKH và QHQT

Trường Cao đẳng Y tế Huế có sứ mạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng, và các trình độ thấp hơn trong lĩnh vực Y tế; nghiên cứu và phát triển khoa học nhằm phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.

Trường Cao đẳng Y tế Huế

Địa chỉ: 01 Nguyễn Trường Tộ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế

Trang web: http://cdythue.edu.vn/

Điện thoại: (054) 3822414

Email: cdythue@cdythue.edu.vn

Monday, April 27, 2015

“Tây lĩnh thang hoằng” - Thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh

Du Lịch Huế - Sự xuất hiện của các tấm bia đã khẳng định vị trí thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh một thuở…

Từng được phát hiện vào năm 1837

Đây là khu vực suối nước nóng từng phát hiện vào thời Nguyễn. Năm 1837, Nguyễn Phúc Miên Nghi trong một lần đến săn bắn ở nguồn Tả Trạch đã phát hiện ra vũng nước nóng này và về báo với vua Minh Mạng. Nhà vua đã cử lang trung Bộ Công là Vũ Trọng Đại đi điều tra tình hình và vẽ bản đồ xác định vị trí. Sau đó vua Minh Mạng lại thân hành đến tận nơi xem xét và làm bài văn “Thang Hoằng Ký” rồi cho khắc vào bia đá, dựng tại nơi này. Trong chuyến đi này, hoàng trưởng tử Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông (sau này là vua Thiệu Trị) cũng đi cùng.

Tấm bia khắc tên địa danh “Lãnh Giản” (năm 1837)

Vào năm 1844, khi có dịp trở lại nơi này và viết bài thơ “Tây lĩnh thang hoằng” chính vua Thiệu Trị cũng nhấn mạnh sự kiện “ngày trước từng theo vua cha lên đây”:

Cố phục bồi du ức tích niên, / Thừa nhan bác lãm chí kim truyền. / Nhất hoằng ủng súc chưng dương hoả, / Vạn trượng phi xung thược thuỷ yên. / Bất hạ Phùng Di thường dũng phất, / Mạn giao Hồi Lộc dịu ngao tiên. / Kham dư chung dục thuỳ linh tích, / Dược thạch hư đàm khủng vị nhiên.

Dịch thơ:

Theo phụ hoàng xưa, tuổi tráng niên, / Mà nay cảnh cũ vẫn lưu truyền. / Một dòng suối nhỏ đà đun nóng, / Vạn trượng hơi mờ lại bốc lên. / Phùng Di khiến nước sôi muôn chốn, / Hồi Lộc mang hơi toả khắp miền. / Tạo hoá linh thiêng ban dấu tích, / Nước này kỳ diệu thuốc thiên nhiên.

Bài thơ “Tây lĩnh thang hoằng” cũng được khắc vào bia đá và dựng tại nơi này.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vũng nước nóng này nằm ở phía tây ấp Dương Hoà bên nguồn Tả Trạch, thuộc địa phận huyện Hương Trà (nay là thị xã Hương Thuỷ), cách ngã ba Bằng Lãng khoảng hơn 20 km. Vũng nước nóng này cách bờ Tả Trạch khoảng 65m, chu vi khoảng 4m, nước đen và trong, sâu chừng khoảng 30cm. Nguồn nước từ trong lòng đất phun ra, sôi sùng sục, khói trắng bốc lên, nóng đến mức không thể tới gần được. Cũng tại nơi này, năm Minh Mạng thứ 18, triều đình cũng cho dựng 2 tấm bia ghi tên suối.

Thắng cảnh thứ 20 của đất thần Kinh

Thời Thiệu Trị, nhà vua từng xếp hạng 20 thắng cảnh xứ Huế qua chùm thơ có tên gọi là Thần Kinh nhị thập cảnh. Chùm thơ gồm các bài thơ ca ngợi 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh (Huế) gồm 7 thắng cảnh tự nhiên và 13 thắng cảnh nhân tạo hoặc là sự kết hợp giữa nhân tạo với tự nhiên. Cảnh suối nước nóng “Tây lĩnh thang hoằng” chính là thắng cảnh thứ 20.

Tấm bia lớn được tìm thấy, chữ khắc trong lòng bia bị nước mưa và thời gian bào nhẵn

Trong 20 thắng cảnh Huế xưa do vua Thiệu Trị đề vịnh được bộ Công vẽ tranh minh hoạ, có 8 thắng cảnh trong cung và vườn ngự đều được khắc thơ lên bảng đồng; 12 thắng cảnh khác đều khắc thơ lên bia đá trong đó có “Tây lĩnh thang hoằng” và được dựng tại đây.

Hiện tại chỉ có 20 bức tranh của bộ Công (in trong sách Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập) là còn tương đối nguyên vẹn. Các bảng đồng đã hoàn toàn không tìm thấy, các bia đá thì tìm thấy 7/12 bia (là các bia Vân Sơn Thắng Tích, Bình Lãnh Đăng Cao, Hương Giang Hiểu Phiếm, Thiên Mụ Chung Thanh, Trạch Nguyên Tao Lộc, Huỳnh Tự Thư Thanh, Đông Lâm Dực Điểu). Và mới đây, việc tìm thấy 2 tấm bia đá ở Tả Trạch đã chỉ ra một “cơ hội” để có thể tìm thấy bia “Tây lĩnh thang hoằng”.

Bằng chứng qua 2 tấm bia

Ngày 09/11/2012, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đã tổ chức khảo sát tại suối nước nóng thuộc xã Dương Hoà, thị xã Hương Thuỷ để xác minh cụ thể về thông tin các tấm bia đá thời Nguyễn được Ban Quản lý rừng phòng hộ Hương Thuỷ phát hiện tại lòng hồ Tả Trạch.

Hiện nay, suối nước nóng đã “thay đổi hình dạng”, không có vẻ là một vũng với chu vi khoảng 4m (như mô tả của sách Đại Nam nhất thống chí) mà nó đã thực sự tạo thành một con suối quanh co, rộng không đều từ 2-4m, dài trên 200m. Nước trong vắt, nóng khoảng 80-100oC, lòng suối đen, khói trắng bốc nghi ngút kín cả mặt nước. Cạnh đó chừng 60m là nguồn Tả Trạch rầm rào thật sự đã tạo nên một bức tranh kỳ vĩ, thơ mộng của thiên nhiên.

Hiện nay, tại khu vực suối nước nóng (có tọa độ ở Kinh độ: 160 14” 452’” ; ở Vĩ độ: 1070 38” 782’”) cách trung tâm thị xã Hương Thủy chừng 15km theo đường chim bay, đã xuất lộ 2 tấm bia trên một triền đồi cao cách khu suối nước nóng khoảng 10m. Một tấm còn nguyên vẹn kiểu dáng, cao 1m60 (không kể phần bệ bia) rộng 86cm, dày 20cm; trán bia chạm hình lưỡng long triều nhật và thân bia chạm hoa lá cách điệu, bệ chạm hoa văn kỷ hà theo phong cách cung đình; bề mặt bia bị nước và thời gian bào mòn đến mức không còn thấy được dấu vết của chữ khắc. Một tấm khác bị gãy phần dưới thân, cao 67cm, rộng 43cm, dày 9cm mặt trước khắc 2 chữ Lãnh Giản mặt sau khắc Minh Mạng thập bát niên, tam nguyệt cát nhật (Ngày tốt, tháng ba, năm Minh Mạng thứ 18).

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết, vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), triều đình có cho khắc dựng 3 bia suối nước nóng tại đây, trong đó có 01 bia lớn khắc bài ký về suối nước nóng của vua Minh Mạng, 2 bia nhỏ khắc tên suối là Thanh Giản (nghĩa là Khe Trong) và Lãnh Giản (nghĩa là Khe Lạnh).

Do vậy, có khả năng tấm bia lớn bị bào mòn bề mặt được phát hiện tại khu vực này là tấm bia khắc bài Thang hoằng ký của vua Minh Mạng.

Đối chiếu này đã nói lên thực tế rằng, hiện vẫn còn 2 tấm bia thời Nguyễn chưa được tìm thấy ở khu vực này. Đó là tấm bia thơ Tây Lĩnh Thang hoằng thời Thiệu Trị và tấm bia địa danh Thanh Giản thời Minh Mạng.

Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đang khẩn trương lập phương án để di chuyển 2 tấm bia trên về bảo quản tại bảo tàng, đồng thời xác định sẽ nỗ lực tìm kiếm và di chuyển 2 tấm bia còn lại, bởi lẽ trong tháng 11 này, khi hoạt động trữ nước tại hồ Tả Trạch triển khai thì vị trí các tấm bia sẽ ngập trong độ sâu từ 50 đến 60m.

*
Sự xuất hiện của các tấm bia đã khẳng định khu vực suối nước nóng này đúng là thắng cảnh thứ 20 của đất Thần Kinh một thuở. Và cũng thật là đáng tiếc, hậu thế khi phát hiện được địa điểm chính xác của thắng cảnh thứ 20 của Huế xưa cũng chính là lúc mà thắng cảnh này sẽ trở thành ký ức khi hồ Tả Trạch tích nước.

Theo Hải Trung

Vườn chùa Huyền Không Sơn thượng

Du Lịch Huế - Từ cầu Trường Tiền đi lên phía chùa Thiên Mụ, băng ngang qua khỏi Văn Miếu Huế theo con đường nhỏ ngược lên mãi dọc theo triền núi sẽ đến vùng núi Chằm, nơi có ngôi chùa Thiền Huyền không Sơn Thượng nằm ở lưng chừng núi với vẻ đẹp kỳ lạ, huyền ảo.


Nếu như Thiền viện Trúc Lâm Bạch mã ẩn hiện giữa lòng hồ Truồi rộng mênh mang thì Chùa Thiền Huyền Không Sơn Thượng lại thu gọn mình trong một thung lũng, giữa những triền đồi, những dãy núi cao và một rừng thông bạt ngàn hàng vạn cây được gọi là Vạn tùng sơn trên độ cao hơn 300m so với mực nước biển. Đây là một ngôi chùa thuộc hệ phái Nam tông (*) được Thượng tọa Giới Đức khai sơn năm 1989.


Trung tâm thung lũng mở ra tả Thanh Long là một triền đồi thoai thoải, hữu Bạch Hổ là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối um tùm. Hướng tây nam có một mỏm núi với cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá gọi là Độc Thụ sơn. Dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá mang dáng vẻ ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn. Những am cốc ẩn cư nằm rải rác sâu trong rừng thông hay quanh quẩn bên sườn núi tạo ra một quần thể kiến trúc tuyệt đẹp.
Độc thụ sơn
Hình chèn bên cạnh là Tượng đá mang dáng vẻ thiền sư dưới gốc cây cổ thu do cố Họa sĩ nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đã tạc gửi tặng chùa.

Những thảo am nhỏ nằm trên lưng chừng núi

Hơn chục năm về trước con đường lên Huyền Không Sơn Thượng mới chỉ là con đường dất nhỏ bé, chạy ngoằn nghèo giữa những khu rừng thông với đá núi gập ghềnh. Lúc đó khi đến đây, tôi đã rất thán phục công sức của các nhà sư chỉ bằng những chiếc xe kéo nhỏ đã đưa được vật liệu lên đây để xây dựng nên ngôi chùa. Bây giờ thì con đường nhỏ ngày xưa đã trở thành một con đường bê –tông khá lớn, ô tô có thể vào được, trong chùa còn có cả nơi để xe ô tô và xe máy dành cho khách tham quan đến thăm chùa.

Cổng vào chùa Huyền Không sơn thượng

Từ cổng chùa bạn đã thấy sự khác biệt của Huyền Không Sơn thượng so với các ngôi chùa khác. Ở đây không có cổng Tam quan to lớn, cổng chùa chỉ như cổng của một ngôi nhà theo kiểu kiến trúc sân vườn Huế. Bước vào phía trong là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện.

Cây cầu dẫn vào Phong Trúc Am

Khác hẳn với chính điện của những ngôi chùa khác, chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ nhưng thoáng đãng, giản dị mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Chính giữa thờ duy nhất Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni như bất cứ ngôi chùa nào khác thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông.

Của vào Phong Trúc Am
"Cửa không mây níu áo hiền nhân
Ngõ trúc sương len hồn trí giả"

Chính điện

Tượng thờ trong chính điện

Bên phải Phật điện là Phong Trúc Am, được dùng làm nơi đón khách. Đó đây, dưới bóng những cây tre ngà lao xao hay trong khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế giả gỗ để khách ngồi nghỉ, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật. Nếu muốn bạn cũng có thể xốc ba lô lên vai, men theo những con đường mòn nhỏ leo lên những sườn núi xung quanh để từ đó thỏa thích ngắm nhìn toàn bộ thung lũng dưới tầm mắt của mình.


Phong Trúc Am


Trước sân chính điện

Nếu biết rằng vị sư trụ trì chùa, Thượng tọa Giới Đức - Minh Đức Triều Tâm Ảnh cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp tài hoa thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi nhìn thấy thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng …Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng.




Nội quy cũng là một bài thơ



Nhà thủy tạ cũng là nơi trưng bày thư pháp



Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên, để một phút sống thật với chính mình… là những cảm xúc không dễ gì bạn bắt gặp nơi ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành…



Thay cho lời tạm biệt
(Photo : Anh Phương)-------------------------

(*) Phật giáo Nam tông hay tiểu thừa, còn gọi là Phật giáo nguyên thủy là hệ phái Phật giáo được truyền theo con đường phía nam từ SriLanka vào Việt Nam ( khác với Phật giáo Bắc tông được truyền từ Trung Quốc đời Bắc Tống sang Việt Nam). Phật giáo Nam tông tu theo lối tu ẩn cư trong những am cốc nhỏ để đạt được đến độ giác ngộ cho bản thân mình. Cũng chính vì vậy những ngôi chùa thuộc hệ phái Nam tông thường ở nơi núi non hoang sơ, có phong cảnh đẹp, xa nơi thị thành.

Nguyễn Văn Liêm

Tranh làng Sình - nét độc đáo của văn hóa Huế

Du Lịch Huế - Tranh dân gian làng Sình có thể sánh ngang với tranh Đông Hồ.

Cùng với hoa giấy Thanh Tiên, từ bao đời nay vào mỗi dịp Tết đến xuân về tranh làng Sình đã góp phần lớn vào việc giữ gìn nét văn hóa tâm linh của người dân xứ Huế.

Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề làm tranh trong làng xuất hiện cách đây khoảng 400 năm về trước và nổi tiếng xứ Huế và các vùng lân cận. Xét về phương diện dòng tranh dân gian thì tranh làng Sình có thể sánh ngang với tranh Đông Hồ.Tuy nhiên điểm khác biệt và độc đáo là tranh làng Sình được làm ra với mục đích là thờ cúng và được đốt đi sau khi cúng.

Và những ngày cuối năm này, người dân làng Sình cũng đang hối hả trong việc làm nên những bức tranh sinh động để kịp phục vụ cho tết cổ truyền của dân tộc. Hiện nay ở làng Sình có khoảng hơn 30 hộ dân còn gắn bó với nghề truyền thống này. Người lớn thì làm tranh cả ngày, còn trẻ em tranh thủ những lúc rãnh rỗi hay được nghĩ học phụ giúp gia đình làm tranh.



Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước, người gắn bó với nghề làm tranh ở làng Sình đã hơn 50 năm cho biết, mỗi độ tết đến thì nhu cầu dùng tranh để thờ cúng của người dân khá nhiều. Theo quan niệm của người dân thì dùng tranh để thờ cúng thì sẽ gặp rất nhiều may mắn trong cuộc sống.Vì thế mà tranh làng Sình không chỉ cung cấp cho thị trường ở Huế mà có những người từ Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Nam...cũng tới đặt hàng mua tranh về để sử dụng trong dịp tết...



Về cách làm tranh, nghệ nhân Phước cho hay, một bức tranh được làm ra thì đòi hỏi nhiều kỹ thuật công phu. Tranh được in trên bản mộc gỗ được khắc rất tinh xảo. Giấy dùng để in tranh phải là loại giấy dó hoặc giấy mộc quét điệp. Còn màu sắc được tạo nên từ nhiều chất liệu như sò điệp, các loại lá cây. Quy trình để làm nên bức tranh phải trải qua rất nhiều công đoạn như : cào điệp, giã điệp, hồ điệp, pha giấy, phơi giấy, tạo màu, khắc ván, in tranh, tô màu...Và giai đoạn tô màu cho tranh đòi hỏi công phu và sự nhanh nhạy của người làm tranh làng Sình.



Về thăm làng Sình và ngôi nhà của Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước một sáng cuối năm, những bức tranh cuối cùng được hoàn thành và đưa ra chợ quê. Nét văn hóa và 1 làng nghề cần được bảo tồn và phát triển.

CTV Lê Huy Hoàng Hải